- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B T TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2022/HSST Ngày 21/03/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B T TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Thanh Hải
2. Bà Trương Văn Dũng
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B T, tỉnh Thanh Hóa.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện B T, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện B T, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2022/HSST ngày 17 tháng 02 năm 2022. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HS ngày 08/03/2022, đối với bị cáo:
Trịnh Văn T; Tên gọi khác: không; Giới tính: nam. Sinh ngày: 05 tháng 10 năm 1981, tại: thị trấn C N, huyện B T, tỉnh T H; Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C C, xã H T, huyện B T, tỉnh T H. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Trịnh Văn G, sinh năm 1958; con bà: Võ Thị V, sinh năm 1958; Vợ: Trương Thị L, sinh năm 1984; bị cáo có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền sự: không; Tiền án: không
Bị cáo không bi tạm giữ, và đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 10/11/2021 cho tới nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Chị Dương Thị Đ, sinh năm: 1971
HKTT: Thôn M M, xã H T, huyện B T, tỉnh T H;
Nơi ở hiện nay: Thôn C C, xã H T, huyện B T, T H;
2. Anh Hà Quý T1, sinh năm: 1952
Trú tại: Thôn M M, xã H T, huyện B T, tỉnh T H;
3. Chị Trần Thị T2, sinh năm: 1971
Trú tại: Thôn K, xã H T, huyện B T, tỉnh T H;
Đều vắng mặt không có lý do.
4. Anh Phạm Văn H, sinh năm: 1984
Trú tại: Thôn Đ, xã Đ H, huyện B T, tỉnh T H; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 17 giờ 43 phút ngày 28/9/2021 Cơ quan điều tra Công an huyện B T lập biên bản vi phạm hành chính với Dương Thị Đ ở thôn C C, xã H T, huyện B T đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức số lô, số đề tại nhà, được thua bằng tiền. Đ ghi số lô, đề với nhiều người không biết tên với số tiền là 280.000đ và qua tin nhắn Zalo “Bác Thương” của ông Hà Quý T1 ở thôn M M, xã H T, huyện B T với tổng số tiền 520.000đ sau đó Đ sử dụng tài khoản zalo“Đại Dương”đăng ký bằng sim số 0375220632 trên điện thoại OPPO-A12 nhắn tin nhắn qua Zalo đến tài khoản zalo “A Tuấn” của Trịnh Văn T sinh năm 1981 ở thôn C C, xã H T, huyện B T được đăng ký bằng số điện thoại 0975598346 trên điện thoại IPHONE 6S màu đen xám của Tuấn mua với các số lô 67, 76 mỗi số 05 điểm; 13, 31 mỗi số 10 điểm. Các số đề: 99, 88, 77, 55, 44, 33, 66, 11, 22, 00 mỗi số 5.000 đồng; 12, 21, 61, 06, 52, 16 mỗi số 10.000 đồng. T đồng ý và nhắn tin trả lời “ok” đến tài khoản zalo của Dương Thị Đ vào lúc 17 giờ 48 phút cùng ngày, sau đó Đ nhắn tin mua thêm với T các số lô 73 là 10 điểm, 37 là 05 điểm nhưng T không trả lời. Tổng số tiền T bán số lô, số đề cho Đ là là 770.000 đồng (bảy trăm bảy mươi nghìn đồng). T bán cho Đ 01 điểm lô là 22.000 đồng và giảm 25% tiền mua số đề, Đ chưa thanh toán tiền cho T. Quá trình lập biên bản và làm việc với Trịnh Văn T, qua kiểm tra tin nhắn trên tài khoản zalo “A Tuấn” đăng ký bằng số điện thoại 0975598*** trên điện thoại IPHONE 6S của T có thể hiện Đ mua bán số lô, đề với nhau không. T đã khai nhận hành vi của mình như sau:
Vì mục đích lợi nhuận nên Trịnh Văn T và những người đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề qua tài khoản zalo, tin nhắn điện thoại để hưởng lợi. Căn cứ vào kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng từ 18 giờ 15 phút đến 18 giờ 30 ngày 28/9/2021 để xác định thắng thua, cụ thể: Mỗi ngày xổ số Miền Bắc cho ra một số đặc biệt và 27 dãy số trúng thưởng, sử dụng 2 số cuối của giải đặc biệt làm số đề, 3 số cuối của giải đặc biệt là số đề 3 càng, 2 số cuối của 27 dãy số làm số lô và số lô xiên “Xiên 2, 3, 4…”. Thỏa thuận cách trả thưởng: Số đề 1.000đ trúng thưởng sẽ nhận được 70.000đ; nếu đánh 1.000đ tiền mua số đề 3 càng trúng thưởng sẽ nhận được 350.000đ; 01 điểm lô bằng 22.000đ đến 23.000đ, khách mua nếu trúng thưởng sẽ nhận được 80.000đ/ 1 điểm lô, trong 27 dãy số nếu có hai số cuối trùng nhau về trong nhiều giải thì được nhân lên bằng 1 điểm lô và tối đa không quá ba lần. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày để trả thưởng cho khách mua, khách mua được trích lại 20% đến 25 % để cộng vào tiền chơi lô, đề. Khi khách chơi chưa phải trả tiền ngay mà sau khi có kết quả mở thưởng sẽ tính toán đối trừ từ việc thắng thua rồi thanh toán tiền cho nhau. Cụ thể:
Vào hồi 17 giờ 17 phút ngày 28/9/2021 anh Phạm Văn H, sinh năm 1984 ở thôn Đ, xã Đ H, huyện B T sử dụng điện thoại thuê bao 0325316*** nhắn tin SMS đến số thuê bao 0365118361 gắn trên điện thoại SAMSUNG GalaxyJ2 Rrime màu vàng của Trịnh Văn T mua các số đề: 04, 40 mỗi số 15.000 đồng; số lô: 71 là 10 điểm bằng 217.000đ. Tuấn đồng ý và nhắn tin trả lời “ok” qua tin nhắn SMS cho H vào lúc 17 giờ 17 phút cùng ngày. Tổng số tiền T bán số lô, số đề cho anh H là 247.000 đồng (hai trăm bốn mươi bảy nghìn đồng). T bán cho H 01 (một) điểm lô là 21.700 đồng và giảm 20% tiền mua số đề, anh H chưa thanh toán tiền cho T.
Vào hồi 17 giờ 38 phút đến 17 giờ 52 phút, ngày 28/9/2021 người sử dụng số thuê bao số 0386710526 (theo lời khai của T là Trịnh Văn Q ở phố 2 L X, thị trấn C N, huyện B T) nhắn tin SMS đến số thuê bao 0365118361 gắn trên điện thoại SAMSUNG J2 Prime màu vàng của T, mua các số đề hệ 18 gồm 08 số: 18, 81, 68, 86, 13, 31, 63, 36 mỗi số 60.000 đồng; các số đề 3 càng gồm 06 số: 898, 797, 191, 787, 242, 343 mỗi số 400.000 đồng; các số đề: 63, 65, 68 mỗi số 80.000 đồng; các số đề con 6 gồm 20 số: 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 06, 16, 26, 36, 46, 56, 66, 76, 86, 96 mỗi số 40.000 đồng; số lô 19 là 70 điểm; các số lô: 67, 42, 89 mỗi số 40 điểm; các số lô 78, 12 mỗi số 30 điểm; Số lô 28 là 100 điểm; các số số lô 72, 01, 11 mỗi số 50 điểm; số lô 95 là 60 điểm; T đồng ý và nhắn tin SMS trả lời “ok” vào lúc 17 giờ 53 phút cùng ngày. Tổng số tiền T bán số lô, số đề cho chủ thuê bao 0386710*** là 16.072.000 đồng. T bán 01 điểm lô là 21.700 đồng và giảm 20% tiền mua số đề. Chủ thuê bao số 0386710*** chưa trả tiền mua số lô, số đề cho T.
Hành vi bán số lô, số đề của Trịnh Văn T cho Dương Thị Đ, Phạm Văn H và người sử dụng số thuê bao 0386710526 (theo lời khai của T là Trịnh Văn Q ở phố 2 L X, thị trấn C N, huyện B T) bị Cơ quan điều tra Công an huyện B T phát hiện sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày 28/9/2021. Vì vậy, căn cứ kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày 28/9/2021 xác định Dương Thị Đ và Phạm Văn H không có số lô, số đề trúng thưởng. Người sử dụng số thuê bao 0386710*** mua số lô, số đề với T, trúng thưởng các số lô: 72, 01, 11 mỗi số 50 điểm, tổng điểm trúng là 150 điểm; tổng số tiền trúng thưởng 3 số lô là 12.000.000đ (mười hai triệu đồng). Như vậy xác định tổng số tiền mà T đã dùng vào việc đánh bạc (bán số lô, số đề và trả thưởng) ngày 28/9/2021 là 29.089.000đ (Hai mươi chín triệu không trăm tám mươi chín nghìn đồng).
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện B T đã điều tra làm rõ: Trần Thị T2, sinh năm 1971, ở thôn K, xã H T, huyện B T, tỉnh T H có bán số lô, số đề cho nhiều người vào chiều ngày 28/9/2021, nhưng không nhớ tên tuổi địa chỉ, được số tiền 4.040.000 đồng. Các số lô, số đề bán được T2 thống kê vào một tờ giấy sau đó sử dụng điện thoại IPHONE 6 màu vàng trắng chụp ảnh tờ giấy thống kê. T2 sử dụng tài khoản zalo “HI” đăng ký bằng sim số 0353841*** trên điện thoại IPHONE 6 màu vàng trắng, của T2 nhắn tin đến tài khoản zalo “TH” thuê bao, T2 khai nhận là của Trịnh Văn T, sinh năm 1981 ở thôn C C, xã H T, huyện B T mua lại các số lô, số đề đã bán thì được T đồng ý và nhắn tin lại “ok”. Sau đó T2 tiếp tục nhắn tin mua thêm với T số đề 40 bằng 50.000 đồng và số đề 04 bằng 30.000 đồng thì được T đồng ý và nhắn tin lại “ok”. Tuy nhiên T2 chưa đưa tiền cho T thì bị tổ công tác Công an huyện B T phát hiện, lập biên bản hồi 18 giờ, ngày 28/9/2021 trước khi xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng
Cơ quan điều tra Công an huyện B T đã tiến hành lấy lời khai và đối chất giữa Trần Thị T2 và Trịnh Văn T để làm rõ. T không thừa nhận đã bán số lô, số đề cho T2 và cũng không sử dụng tài khoản Zalo“TH”. Ngày 11/10/2021 Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hoá để khôi phục dữ liệu điện tử và phục hồi tin nhắn zalo trên điện thoại thu giữ của Trịnh Văn T và Trần Thị T2, Dương Thị Đ. Tại bản kết luận giám định số 3270/PC09, ngày 28/10/2021 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: “Trong mẫu vật kí hiệu M01(điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG J2 màu vàng của Trịnh Văn T) gửi giám định hiện tại không phục hồi được tin nhắn SMS trong ngày 28/9/2021. Trong mẫu vật kí hiệu M02 (điện nhãn hiệu IPHONE 6S màu xám của Trịnh Văn T) và M03 (điện thoại nhãn hiệu OPPO A12 màu xanh – đen của Dương Thị Đ) gửi giám định hiện tại không phục hồi được tin nhắn Zalo tên “A Tuấn” (Trịnh T) với tài khoản Zalo tên “Đại Dương” trong ngày 28/9/2021. Trong mẫu kí hiệu M04 (điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6S màu trắng – vàng của Trần Thị T2) gửi giám định: Hiện tại phục hồi được 01 (một) tin nhắn Zalo cuộc trò chuyện giữa tài khoản Zalo tên “TH” với tài khoản Zalo tên “HI” trong ngày 28/9/2021 với nội dung “Nộp 51310”. Ngày 08/10/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Bá Thước ra công văn số 01/CSĐT yêu cầu Công ty Cổ phần VNG cung cấp thông tin về họ tên, năm sinh, địa chỉ, số CMND, hình ảnh và số điện thoại người đăng ký zalo có tên “TH”. Nội dung tin nhắn giữa tài khoản zalo “TH” với tài khoản zalo “HI” trong ngày 28/9/2021 và nội dung tin nhắn giữa tài khoản zalo “Trịnh T” (A Tuấn) với tài khoản zalo “Đại Dương” trong ngày 28/9/2021.
Tại công văn số 609/2021/CV-VNG ngày 25/11/2021 của Công ty cổ phần VNG cung cấp thông tin “Bộ phận kỹ thuật không lưu thông tin như trong công văn số 01/CSĐT ngày 08/10/2021 của Cơ quan CSĐT Công an huyện B T yêu cầu”. Do không đủ cơ sở xác định chủ tài tài khoản zalo “TH” có phải là của Trịnh Văn T hay không nên xác định hành vi mua bán số lô, số đề của Trần Thị T2 với số tiền 4.040.000 đồng (Bốn triệu không trăm bốn mươi nghìn) bị bắt trước khi mở thưởng không cấu thành tội phạm và không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Trịnh Văn T và Trần Thị T2. Cơ quan điều tra Công an huyện B T đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Trần Thị T2 theo quy định.
Xác định ông Hà Quý T1, sinh năm 1952 ở thôn M M, xã H T, huyện B T sử dụng tài khoản zalo “Bác Thương” đăng ký bằng sim số 0974741407 trên điện thoại OPPO F7 của ông T1 nhắn tin đến tài khoản zalo “Đại Dương” của Dương Thị Đ mua các số lô, số đề với Đ, số tiền là 520.000 đ; Dương Thị Đ bán số lô, số đề với số tiền 800.000 đ và mua số lô, số đề với Trịnh Văn T 770.000 đ ; Phạm Văn H mua số lô, số đề với Trịnh Văn T số tiền là 427.000 đồng trong ngày 28/9/2021, số tiền dùng vào việc đánh bạc không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự và qua xác minh, trước đó Hà Quý T1, Dương Thị Đ, Phạm Văn H đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ hình sự. Ngày 28/10/2021 Công an huyện B T đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với đối với Dương Thị Đ, Phạm Văn H, Hà Quý T1 theo quy định.
Ngày 07/10/2021 Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B T ra lệnh thu giữ thông tin chủ thuê bao, lịch sử, nội dung tin nhắn đi, tin nhắn đến, tin nhắn đã xóa và các cuộc gọi đi, gọi đến trong ngày 28/9/2021 của các số thuê bao 0386710***, 0365118***. Tại văn bản số 4359/CNVTQĐ-TTKT, ngày 22/10/2021 của Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội về việc phúc đáp lệnh thu giữ thể hiện: Chủ thuê bao số 0365118361 là anh Nguyễn Bảo K, sinh năm 1997 ở xã T H, thị xã T H, tỉnh N A; chủ thuê bao số 0386710*** là anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 2001 ở xã C L, huyện H L, tỉnh T H. Tại thời điểm kiểm tra (13/10/2021) không còn lưu bảng kê chi tiết nội dung tin nhắn đi, đến của 02 số điện thoại 0386710526 và 0365118*** thời gian trong ngày 28/9/2021 trên hệ thống. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B T đã tiến hành xác minh Nguyễn Bảo K và Nguyễn Văn L1 chưa từng sử dụng các số điện thoại nêu trên, Nguyễn Văn L1 đã bỏ nhà đi khỏi địa phương hiện nay không biết ở đâu. Đồng thời căn cứ lời khai của Trịnh Văn T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B T đã tiên hành xác minh tại phố 2 L X, thị trấn C N, huyện B T có 01 công dân tên là Trịnh Văn Q, sinh năm 1990 và tiến hành lấy lời khai đối với Q; tiến hành đối chất giữa T và Q. Kết quả điều tra không đủ chứng cứ chứng minh Trịnh Văn Q là người sử dụng số điện thoại 0386710*** mua số lô, số đề với Trịnh Văn T ngày 28/9/2021. Vì vậy không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với Trịnh Văn Q và sẽ xử lý đối với chủ số thuê bao 0386710*** khi có đủ chứng cứ chứng minh.
Tại bản kết luận giám định ngày 30/9/2021 của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh huyện Bá Thước kết luận toàn bộ số tiền tang vật thu giữ của Dương Thị Đ và Trần Thị T2 gồm: số tiền 280.000đ (hai trăm tám mươi nghìn đồng) và số tiền 110.000đ (một trăm mười nghìn đồng) đều là tiền do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành và lưu thông.
Tang vật, tài liệu thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng, model: SM-G532G, có số IMEI 1: 359498095831601, IMEI 2: 359499095831609, kèm theo 01 (một) sim có ghi bên ngoài: 8984048000062291754, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động iphone 6s, màu xám, model: A1688, có số IMEI: 355399085472485, kèm theo 01 (một) sim có ghi bên ngoài: 8984048851000497410, đã qua sử dụng.
- 01 (Một) điện thoại di dộng Oppo A12, màu xanh đen, model: CPH2077, có số IMEI 1: 865073044559798, IMEI 2: 865073044559780, kèm theo 01 sim có ghi bên ngoài: 8984048000028283580 của Dương Thị Đ; 01 (một) điện thoại di động của Trần Thị T2 nhãn hiệu iphone 6, màu vàng, model: A1549, có số IMEI: 358370065511508, kèm theo 01 (một) sim điện thoại không nhìn rõ số ghi bên ngoài; 01 (Một) điện thoại di động của Hà Quý T1 nhãn hiệu Oppo F7, màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 869002030730432, IMEI 2: 869002030730424, điện thoại gắn sim số 0974741***, điện thoại đã qua sử dụng, không phải là vật chứng của vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B T đã trả lại cho chủ sỡ hữu hợp pháp theo quy định.
Đối với số tiền 280.000đ thu giữ của Dương Thị Đ; Số tiền 4.040.000đ gồm 110.000đ (Một trăm mười nghìn đồng) thu giữ của Trần Thị T2 và 3.930.000đ (ba triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng) Trần Thị T2 tự nguyện giao nộp ngày 27/10/2021; Số tiền 520.000đ (Năm trăm hai mươi nghìn đồng) của Hà Quý T1 tự nguyện giao nộp ngày 27/10/2021; Số tiền 247.000đ (Hai trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) của Phạm Văn H tự nguyện giao nộp ngày 27/10/2021. Cơ quan điều tra đã tịch thu sung công quỹ nhà nước theo các quyết định xử phạt vi phạm hạnh chính số 47,48,49,50/QĐ-XPVPHC ngày 28/10/2021 của Công an huyện B T
Đối với chiếc điện thoại di động Phạm Văn H sử dụng nhắn tin mua các số lô, số đề với Trịnh Văn T đã bị H đánh mất nên không truy tìm và thu giữ được, do vậy không đủ cơ sở để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số10/CT-VKSBT-TA, ngày 16/02/202 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B T truy tố Trịnh Văn T về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 – BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng nêu là đúng người, đúng tội theo quy định của pháp luật. Bị cáo trình bày: Bản thân bị cáo lần đầu tiên đánh bạc bằng hình thức lô đề nên đã sử dụng hai điện thoại.
Người làm chứng vắng mặt, có lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa và nội dung bản cáo trạng.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện B T giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1 điều 51 và điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Văn T từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/3/2022).
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đang mắc bênh ung thư tuyến giáp, đang nuôi con nhỏ, gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 47 BLHS; các điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng) là số tiền mà bị cáo thu lời bất chính từ việc đánh bạc, tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng, 01 (một) điện thoại di động iphone 6s, màu xám của bị cáo T là công cụ phạm tội. Đối với số tiền đánh bạc thuê bao số điện thoại 0386710*** mua số lô, số đề với Trịnh Văn T ngày 28/9/2021 số tiền 16.072.000đ chưa đưa tiền cho bị cáo, quá trình điều tra đã xác định được người đăng ký thuê bao, nhưng hiện nay không có mặt tại địa phương Cơ quan CSĐT đang tách ra để xử lý sau. Số tiền đánh Lô, đề của Dương Thị Đ và Phạm Văn H đã tự nguyện giao nộp và xử lý sung công quỹ theo Quyết định xử phạt hành chính. Về vật chứng là chiếc điện thoại OPPO-A12 thuê bao 0375220*** Cơ quan tra đã xử lý theo Quyết định Hành chính.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, không có khiếu nại. Vì vậy, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tó tụng đã thực hiện đầy đủ và hợp pháp, đúng theo quy định của pháp luật.
. Về sự vắng mặt người làm chứng: Xét thấy trong quá trình điều tra người làm chứng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, xét thấy cần thiết làm rõ hành vi của bị cáo sẽ được công bố lời khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt.
. Tại phiên tòa hôm nay bÞ c¸o Trịnh Văn T đã nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lêi nhËn téi cña bÞ c¸o phï hîp víi lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản vi phạm hành chính; hiện trường vụ án, vật chứng thu giữ vµ nh÷ng tµi liÖu, chứng cứ khác ®· ®ược thu thËp cã trong hå s¬. Héi ®ång xÐt xö cã ®ñ c¬ së kÕt luËn: Xuất phát từ động cơ vụ lợi, vào hồi 17 giờ 17 phút và 17 giờ 43 phút ngày 28/09/2021, Trịnh Văn T đã sử dụng 02 điện thoại di động (điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG J2 màu vàng thuê bao 0365118361 và 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6S màu xám thuê bao 0975598346 và Dương Thị Đ sử dụng điện thoại nhãn hiệu OPPOA12 màu xanh thuê bao 03752200632, Phạm Văn H sử dung thuê bao 0325316*** và thuê bao 0386710*** đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề qua tin nhắn SMS, số tiền bị cáo đánh bạc đối với Dương Thị Đ tiền 770.000 đ, Phạm Văn H 247.000đ và người sử dụng số thuê bao 0386710*** số tiền 16.072.000đ. Tổng số tiền bị cáo T đánh bạc là 17.089.000đ (Mười bảy triệu không trăm tám mươi chín nghìn). Vì vậy VKSND huyÖn B T truy tè bị cáo Trịnh Văn T tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến nếp sống văn minh của xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm đồng thời làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật Hình sự vớ một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.
. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Có 02 tình tiết giảm nhẹ là “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại các điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại điều 65 BLHS và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
. Về hình phạt tiền bổ sung: Bị cáo trình bày là lao động tự do, có thu nhập thấp, sức khỏe không ổn định, đã từng điệu trị ung thư tuyến giáp nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 điều 47 BLHS; các điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng) là số tiền mà bị cáo thu lời bất chính từ việc đánh bạc, tịch thu bán đấu giá sung ngân sách nhà nước 01(một) điện thoại di động Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng, 01 (một) điện thoại di động iphone 6s, màu xám của bị cáo T là công cụ phạm tội. Đối với số tiền đánh bạc với số điện thoại thuê bao 0386710*** mua số lô, số đề với bị cáo T ngày 28/9/2021 số tiền 16.072.000đ chưa đưa tiền cho bị cáo, quá trình điều tra đã xác định được đối tượng sử dụng số điện thoại trên, nhưng hiện nay không có mặt tại địa phương, Cơ quan CSĐT đã tách ra để xử lý sau. Vì vậy, không truy thu số tiền này của bị cáo Số tiền đánh lô, đề của Dương Thị Đ 770.000đ và Phạm Văn H 247.000đ đã tự nguyện giao nộp đã xử lý sung công quỹ theo Quyết định xử phạt hành chính tại Cơ quan điều tra. Về vật chứng là chiếc điện thoại OPPO-A12 thuê bao 0375220*** Cơ quan tra đã xử lý theo Quyết định Hành chính.
. Trong vụ án này đối với hành vi của Trần Thị T2 bán số lô, số đề cho nhiều người rồi dùng điện thoại nhắn tin bán lại cho T thông qua tài khoản Zalo “TH”. Tuy nhiên do không đủ cơ sở xác định chủ tài khoản Zalo “TH” là của bị cáo T. Vì vậy, không có đủ căn cứ để xử lý đối với T2 và T.
Đối với hành vi của Trần Thị T2 vào ngày 28/9/2022 bán số lô, số đề cho nhiều người không nhớ tên, tuổi, địa chỉ với tổng số tiền 4.040.000đ (Bốn triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) bị bắt trước khi mở thưởng, không đủ định lượng, không cấu thành tội phạm. Công an huyện B T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Thị T2 là đúng quy định.
Đối với Hà Quý T1 nhắn tin mua số lô, số đề với Dương Thị Đ. Dương Thị Đ bán số lô, số đề và mua số lô, số đề với Trịnh Văn T. Phạm Văn H mua số lô, số đề với Trịnh Văn T. Do số tiền dùng vào việc đánh bạc không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự và trước đó Hà Quý T1, Dương Thị Đ, Phạm Văn H đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ hình sự. Công an huyện B T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với đối với Dương Thị Đ, Phạm Văn H, Hà Quý T1 là đúng quy định.
Đối với Trịnh Văn Q (theo lời khai của T là người sử dụng số thuê bao 0386710***) có hành vi nhắn tin SMS mua số lô, số đề với T. Quá trình điều tra không đủ chứng cứ chứng minh vì vậy không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với Q. Đối với chủ thuê bao 0386710*** qua xác minh không có mặt ở địa phương cơ quan tra đã tách ra để xử lý sau.
. Về án phí: BÞ c¸o ph¶i chÞu 200.000 đồng ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51 và điều 65 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 điều 106, Khoản 2 điều 136. Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 điều 6, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt: Trịnh Văn T 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười Tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/3/2022).
Giao bị cáo Trịnh Văn T cho UBND xã H T, huyện B T, tỉnh T H giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Truy thu của bị cáo Trịnh Văn T sung vào Ngân sách nhà nước số tiền thu lời bất chính 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng).
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng, model: SM - G532G, có số IMEI 1: 359498095831601, IMEI 2: 359499095831609, kèm theo 01 (một) sim có ghi bên ngoài: 8984048000062291754 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động iphone 6s, màu xám, model: A1688, có số IMEI: 355399085472485, kèm theo 01 (một) sim có ghi bên ngoài: 8984048851000497410 đã qua sử dụng. Cả 02 (Hai) chiếc điện thoại được niêm phong vào một phong bì do Công an huyện B T phát hành, mặt trước có ghi chữ “Điện thoại-Trịnh Văn T”, mặt sau được dán kín có các chữ ký ghi rõ họ tên của Nguyễn Đức D, Lê Ngọc T3, Trương Ngọc T4 và các hình dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 07 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B T và chi cục Thi hành án dân sự huyện BT ngày 16/02/2022).
- Án phí: Bị cáo Trịnh Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
- VKSND H. B T;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Tòa án tỉnh Thanh Hóa;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND tỉnh Thanh Hóa (P7);
- Bị cáo: Chung;
- Người bị hại;
- Người có QLNV liên quan;
- Công an H. B T;
- Chi cục THAH. B T;
- Lưu HS.
Vũ Văn Nga
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lƣơng Thanh Hải
Vũ Văn Nga
Trƣơng Văn Dũng
| Nơi nhận: - VKSND H. Bá Thước; - Tòa án tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P7); - Bị cáo: Chung; - Người bị hại; - Người có QLNV liên quan; - Công an H. Bá Thước; - Chi cục THAH. Bá Thước; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Văn Nga |