vanban.org

Bản án 07/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 16/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Giang N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Giang N 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 13/12/2021. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Giang N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Giang N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HS-ST
Ngày: 16-02-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Bích Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Xuân Thủy;

2. Bà Nguyễn Thị Hoan.

- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2022 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Giang N, sinh ngày 21/4/1992, tại huyện Đ, thành phố H; nơi cư trú: tổ 4, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (nơi ĐKTT: số 126, phố P, thị trấn P, huyện Đ; Thành phố H); nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Thanh L và bà Đào Thị Hương Gi ; có vợ Mai Thị O và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 13/12/2021 đến ngày 19/12/2021 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình đến nay. (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Hoàng Quang T, sinh năm 1973;

Nơi cư trú: tổ 18, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

- Người làm chứng: ông Lê Văn N1 (vắng mặt).

- Người chứng kiên: ông Lã Xuân H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 45 phút, ngày 13/12/2021 tại đoạn đường Đồng Giao thuộc thôn Th , xã Q, thành phố T, tổ công tác Công an thành phố T phát hiện một nam thanh niên đang đứng một mình bên lề đường cạnh chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki viva màu xanh, BKS 35F4-4306, tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính thì người này không xuất trình được giấy tờ và khai tên là Nguyễn Giang N; đồng thời N lấy từ trong túi quần phía trước bên trái đang mặc một túi nilon nhỏ màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đó là ma túy đá N vừa nhờ bạn mua được, mang theo để sử dụng. Tổ công tác tiến hành kiểm tra và đo túi nilon có kích thước (1,5x2)cm. Sau khi kiểm tra, tổ công tác đã niêm phong túi nilon bên trong có chất tinh thể màu trắng vào phong bì. Ngoài ra, N còn giao nộp cho tổ Công tác 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi Note 10 màu đen, bên trong lắp 01 sim Viettel có số thuê bao 0961.535.532 và số tiền 29.000 đồng và thu giữ của Nam 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki viva, màu xanh BKS 35F4-4306 đã qua sử dụng.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Giang N và kí hiệu M gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 13/KLGĐ-PC09-MT ngày 19/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2203 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSNDTPTĐ ngày 15 tháng 01 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Giang N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Giang N và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Giang N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Giang N từ 12 tháng đến 14 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ 13/12/2021.

+ Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng, bao gồm: 01 phong bì giấy dán kín mép, bên ngoài ghi số: 13/KLGĐ-PC09-MT, vụ Nguyễn Giang N, sinh năm 1992, tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 13/12/2021 tại xã Q, thành phố T, mẫu vật hoàn trả gồm M=0,1432 gam làm ma túy loại Methamphetamine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì giấy dán kín niêm phong, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 vỏ túi nilon màu trắng, kích thước (1,5x2) cm; 01 vỏ phong bì giấy đã cắt một đầu dùng để niêm phong vật chứng thu giữ ban đầu; 01 vỏ phong bì giấy đã cắt một đầu dùng để niêm phong điện thoại thu giữ của Nguyễn Giang N.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Giang N số tiền 29.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Giang N đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình với diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khẳng định bản thân bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hoàng Quang T trình bày ý kiến đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki viva, màu xanh, BKS 35F4-4306 và không có ý kiến đề nghị gì về việc giải quyết vụ án.

Người làm chứng ông Lê Văn N1 khai báo: khoảng 13 giờ 45 ngày 13/12/2021, ông nhìn thấy Nguyễn Giang N lấy từ trong túi quần phía trước bên trái 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chất tinh thể màu trắng, N khai nhận là ma túy đá vừa mua được mang theo để sử dụng. Diễn biến sự việc như cáo trạng đã nêu.

Người chứng kiến ông Lã Xuân H khai báo: khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 13/12/2021, ông được Công an mời ra chứng kiến việc Công an tiến hành kiểm tra đối với Nguyễn Giang N. Quá trình kiểm tra, Nam không xuất trình được giấy tờ tùy thân và tự giao nộp 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chất tinh thể màu trắng, N khai nhận là ma túy đá mang theo để sử dụng cho bản thân. Diễn biến sự việc như cáo trạng đã nêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 13/12/2021 (BL6 đến BL9), Biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại (BL29), Kết luận giám định số 13/KLGĐ-PC09-MT ngày 19/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình (BL32) và các tang vật, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: khoảng 13 giờ 45 phút, ngày 13/12/2021, tại đường Đồng Giao thuộc thôn Th, xã Q, thành phố T, Nguyễn Giang N có hành vi tàng trữ 0,2203 gam ma túy, loại Metamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy trong người để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là trái phép, là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…c) Heroine, Cocaine, Methaphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Giang N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.

Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa từng vi phạm pháp luật.

Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cần phải có hình phạt thích đáng đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, có như vậy mới có tác dụng giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và cho xã hội, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Suzuki viva, màu xanh BKS 35F4-4306 đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Quang T cho bị cáo N mượn; việc Nam sử dụng chiếc xe mô tô đi mua ma túy anh T không biết. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe mô tô cho anh T là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 10 màu đen, bên trong lắp 01 sim Viettel số thuê bao 0961.535.532 đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo N, không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại chiếc điện thoại và sim cho bị cáo, chị Mai Thị O (là vợ bị cáo) đã nhận lại theo ủy quyền bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Đối với các vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T quản lý gồm: 01 phong bì giấy dán kín mép, bên ngoài ghi số: 13/KLGĐ-PC09-MT, vụ Nguyễn Giang N, sinh năm 1992, tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 13/12/2021 tại xã Q, thành phố T, mẫu vật hoàn trả gồm M=0,1432 gam làm ma túy loại Methamphetamine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì giấy dán kín niêm phong, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 vỏ túi nilon màu trắng, kích thước (1,5x2) cm; 01 vỏ phong bì giấy đã cắt một đầu dùng để niêm phong vật chứng thu giữ ban đầu; 01 vỏ phong bì giấy đã cắt một đầu dùng để niêm phong điện thoại thu giữ của Nguyễn Giang N. Trong đó, số ma túy là vật cấm tàng trữ, các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 29.000 đồng thu giữ của bị cáo là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy: bị cáo khai nhận ngày 13/12/2021, bị cáo nhờ người bạn tên C mua hộ với giá 300.000 đồng ở khu vực thôn T, xã Q, thành phố T. Do bị cáo N không biết họ tên, tuổi địa chỉ của C ở đâu nên không có cơ sở để điều tra, xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Giang N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Giang N 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 13/12/2021.

2. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp.

+ Tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì giấy dán kín mép, bên ngoài ghi số: 13/KLGĐ-PC09-MT, vụ Nguyễn Giang N, sinh năm 1992, tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 13/12/2021 tại xã Q, thành phố T, mẫu vật hoàn trả gồm M=0,1432 gam làm ma túy loại Methamphetamine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong;

- 01 phong bì giấy dán kín niêm phong, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 vỏ túi nilon màu trắng, kích thước (1,5x2) cm; 01 vỏ phong bì giấy đã cắt một đầu dùng để niêm phong vật chứng thu giữ ban đầu;

- 01 vỏ phong bì giấy đã cắt một đầu dùng để niêm phong điện thoại thu giữ của Nguyễn Giang N.

(Chi tiết vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 20/01/2022 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T)

+ Trả cho bị cáo số tiền 29.000 đồng.

(Số tiền đã được chuyển đến tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T theo ủy nhiệm chi lập ngày 17/01/2022)

3. Về án phí: bị cáo Nguyễn Giang N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 13/12/2021. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ