vanban.org

Bản án 07/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 17/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn G phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn G 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 29/10/2021. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn G phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:07/2022/ HS-ST
Ngày: 17/01/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Thúy Thu.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Quách Thị Thu Hương

Và Bà Hoàng Thị Phượng.

-Thư ký phiên toà: Bà Đặng Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Việt Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 149/ 2022/TLST-HS, ngày 17 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn G ( tên gọi khác: không) - Sinh năm 1990; tại huyện K, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: xóm B, xã A, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Đ và bà Trần Thị L; Vợ, con : chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/10/2021 đến ngày 04/11/2021 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (có mặt).

- Người làm chứng:

+ Anh Bùi Như Ng, sinh năm 1994; (Vắng mặt).

+ Anh Dương Văn Q, sinh năm 1997; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhau sau:

Hồi 15 giờ 10 phút ngày 29/10/2021, Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Ninh Bình phối hợp cùng công an phường T, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình làm nhiệm vụ tại khu vực đường N, phố V, phường T, thành phố Ninh Bình phát hiện Lê Văn G có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra Lê Văn G thả từ tay phải xuống mặt đường tại vị trí gần chân Lê Văn G đứng 01 túi nilon màu xanh thì bị Tổ công tác phát hiện thu giữ. Tổ công tác tiến hành kiểm tra 01 túi nilon màu xanh bên trong là lớp giấy màu trắng có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Lê Văn G khai nhận đây là ma túy loại Heroine mà G vừa nhờ mua hộ với giá 200.000 đồng mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng theo đúng quy định của pháp luật và đưa Lê Văn G cùng vật chứng về trụ sở Công an phường T, thành phố Ninh Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Cơ quan Công an tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong túi nilon màu xanh gói lớp giấy màu trắng thu giữ của Lê Văn G có khối lượng là 0,13g ký hiệu M1 gửi giám định để xác định có phải là chất ma túy không, nếu là ma túy thì là loại ma túy gì, khối lượng bao nhiêu?

Tại bản Kết luận giám định số 823/KLGĐ-PC09-MT ngày 03/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1307 gam là ma túy, loại Heroine. Heroine là chất ma túy thuộc bảng danh mục I, có số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hoàn lại đối tượng giám định gồm: chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0764 gam là ma túy, loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói, niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 823/KLGĐ-PC09-MT, cùng thông tin về vụ việc và vật chứng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình quản lý để giải quyết cùng vụ án.

Quá trình điều tra Lê Văn G khai nhận: G là người nghiện ma túy. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 29/10/2021 G đi đến Trung tâm y tế huyện K để uống thuốc Methadone, tại đây G gặp và nhờ 01 người nam thanh niên không quen biết mua hộ 200.000đồng ma túy, loại Heroine. Sau đó người nam thanh niên cầm tiền và đi khoảng 10 phút thì quay lại đưa cho G 01 túi nilon màu xanh bên trong là lớp giấy màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng. G cầm gói ma túy trên tay phải rồi bắt xe Bus đến thành phố Ninh Bình để tìm việc làm. Khi xe Bus đi đến đường N, phố V, phường T, thành phố Ninh Bình , G xuống xe, đi bộ được một đoạn thì bị Tổ công tác kiểm tra thu giữ ma túy.

Tại bản cáo trạng số 03/CT- VKS, ngày 15 tháng 12 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Lê Văn G ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên toà :

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Lê Văn G từ 12 đến 15 tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29/10/2021.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 0,0764gam ma túy, loại Heroine mà cơ quan giám định hoàn lại cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu. Áp dụng: Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Bộ luật tố tụng hình sự buộc bị cáo Lê Văn G phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo Lê Văn G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về tội danh, hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; kết luận giám định số 823/KLGĐ-PC09-MT ngày 03/11/2021của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình và phù hợp với lời khai của người làm chứng...Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 10 phút, ngày 29/10/2021, tại đường N, phố V, phường T, thành phố Ninh Bình, bị cáo Lê Văn G đã có hành vi cất giữ trái phép trong người 0,1307 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

………………….

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

………………….

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn làm ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội, đến sức khoẻ của con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác…Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thoả mãn nhu cầu của bản thân bị các vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy bị cáo đang uống thuốc Methadone để cai nghiện ma túy nhưng trong thời gian uống thuốc bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng ma túy, phạm tội lần đầu nhưng thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, lao động, cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo chỉ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không mang tính chất vụ lợi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Từ nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo.

Các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của bị cáo G: Bị cáo khai nhờ một người nam thanh niên cùng uống thuốc Methadone tại Trung tâm y tế huyện K mua hộ, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để điều tra xác minh, làm rõ.

- Xử lý vật chứng: Số ma túy, loại Heroine thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,1307 gam , sau khi lấy mẫu giám định (không hoàn trả mẫu vật) số còn lại 0,0764 gam cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.Tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 823/KLGĐ-PC09-MT.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn G phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Văn G 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 29/10/2021.

- Xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư dán kín, niêm phong theo đúng quy định mặt trước ghi “ Mẫu vật hoàn trả sau giám định số 823/KLGD-PC09-MT”; 01 phong bì thư dán kín, niêm phong theo đúng quy định mặt trước ghi “ Toàn bộ vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu C”.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

- Về án phí: Bị cáo Lê Văn G phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án .

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ