- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 07/2022/HS-ST Ngày: 15-02-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Ngọc The
2. Bà Nguyễn Thị Kim Khoe
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thu Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2021/HSST-QĐ ngày 27 tháng 12 năm 2021, quyết định hoãn phiên tòa số 02/2022/QĐST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2022 và và quyết định hoãn phiên tòa số 04/2022/QĐST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2022đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn V (V Lùn) - sinh năm 1990.
Nơi cư trú: ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; con ông Nguyễn Văn N , sinh năm 1954 (chết) và bà Lê Kim H , sinh năm 1955; vợ: Mai Thị H , sinh năm 1996. Con: có 2 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền sự: Ngày 23/5/2019, Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến ngày 23/11/2019 chấp hành xong. Tiền án: không.
Ngày 07/01/2022 bị cáo bị Công an huyện A , tỉnh Kiên Giang bắt tạm giữ về hành vi “Trộm cắp tài sản” đến ngày 15/01/2022 chuyển tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V : Ông Bùi Đức Độ - Trợ giúp viên
pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên
tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 12/5/2021, trong quá trình tuần tra giữ gìn an ninh trật tự tại địa bàn, Công an xã T phát hiện Nguyễn Văn V đang điều khiển xe mô tô mang BKS 68S2-5758 có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra giấy tờ, phát hiện trong túi quần Jean phía bên phải Nguyễn Văn V đang mặc có một gói thuốc lá nhãn hiệu Hero, dưới lớp nilon bao bên ngoài của gói thuốc lá có 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng có sọc đỏ, bên trong có chứa các chất nghi là ma túy nên tiến hành lập biên bản niêm phong, tạm giữ tang vật gồm: 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng có sọc đỏ được hàn kín hai đầu có kích thước 3,4cm x 0,8cm bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất được để dưới lớp nilon bao phía ngoài của gói thuốc lá nhãn hiệu Hero; 01 (một) điện thoại di động hiệu X2-Nokia màu đen đã qua sử dụng, chưa kiểm tra tình trạng bên trong; 01 (một) chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 68S2-5758 nhãn hiệu Best, lốc máy hiệu Longcin màu xanh đen; 01 (một) cây nỏ thủy tinh dài 09cm; 01 (một) cây nỏ thủy tinh dài 14cm.
Kết quả điều tra xác định: Nguyễn Văn V thừa nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ 2019, loại Methamphetamine. Ngày 11/5/2021, V trực tiếp đến gặp người phụ nữ tên Thúy Vy (tên thật là Võ Thị Thúy D , thường trú tại ấp Đ , xã T , huyện T) để mua ma túy đá sử dụng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua xong, V cất giấu dưới lớp nilon bao ngoài gói thuốc lá nhãn hiệu Hero để bên túi quần phải đang mặc và đi về nhà sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng. Đến khoảng 01 giờ ngày 12/5/2021, V đau răng đi mua thuốc uống trên đường về thì bị kiểm tra và bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Trước đó, V còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với đối tượng tên Núi (không rõ họ tên và địa chỉ) và Lương Tuấn L , do các đối tượng này mua ma túy cho V sử dụng.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T , tỉnh Kiên Giang tiến hành trưng cầu giám định, để xác minh chất ma túy, khối lượng nghi là chất ma túy thu giữ khi bắt quả tang V tàng trữ và giám định dấu vết đường vân trên bịch ma túy thu giữ.
* Tại kết luận giám định số 482/KL-KTHS ngày 17/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:
Các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1850 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
* Tại kết luận giám định số 488/KL-KTHS ngày 17/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận: Trên 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng có sọc đỏ (mẫu cần giám định) không có dấu vết đường vân đủ yếu tố giám định.
Cáo trạng số 25/CT-VKSTH ngày 30/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích và đánh giá mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy:
- Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1781 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong phong bì có ký hiệu vụ số 482/2021 có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Tuấn Em và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Kiên Giang, là vật chứng bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu tiêu hủy;
- 01 (một) cây nỏ thủy tinh dài 09cm; 01 (một) cây nỏ thủy tinh dài 14cm là công cụ sử dụng trái phép chất ma túy, cần tịch thu tiêu hủy.
* Ông Bùi Đức Độ - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V : Thống nhất với bản cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; cũng thống nhất với tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đã áp dụng cho bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có công văn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt vì đã lập công chuộc tội, cung cấp thông tin, hỗ trợ nhiệt tình để Cơ quan điều tra tổ chức triệt xóa tụ điểm và khởi tố vụ án, khởi tố bị can mua bán trái phép chất ma túy với số lượng ma túy lớn; ngoài ra bị cáo còn hưởng tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 là hộ cận nghèo. Nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo trong mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo.
Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức rõ hành vi sai trái của mình và hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung Cáo trạng, kết luận điều tra, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 01giờ ngày 12/5/2021, Công an xã T tuần tra phát hiện bị cáo Nguyễn Văn V đang điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 68S2-5758, có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra phát hiện bị cáo Nguyễn Văn V tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng là 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng có sọc đỏ được hàn kín hai đầu có kích thước 3,4cm x 0,8cm bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất được để dưới lớp nilon bao phía ngoài của gói thuốc lá nhãn hiệu Hero là chất ma túy, loại methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1850 gam.
Theo kết luận giám định số 482/KL-KTHS ngày 17/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1850 gam.
Từ những phân tích, đánh giá trên đã đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra cho thấy bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện đặc biệt nguy hiểm, tàn phá sức khỏe của người sử dụng và làm suy giảm giống nòi, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Dù không nhằm mục đích vụ lợi, nhưng vì muốn được thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật và hậu quả mua ma túy về tàng trữ sử dụng một cách trái pháp luật.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có tiền án; bị cáo không biết chữ, gia đình thuộc hộ cận nghèo; bị cáo được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có công văn số 179/CV-CSĐT ngày 06/9/2021 về việc xem xét giảm nhẹ hình phạt vì đã lập công chuộc tội, cung cấp thông tin, hỗ trợ nhiệt tình để Cơ quan điều tra tổ chức triệt xóa tụ điểm và khởi tố vụ án, khởi tố bị can mua bán trái phép chất ma túy với số lượng ma túy lớn; nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt trong mức án đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy:
Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1781 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong phong bì có ký hiệu vụ số 482/2021 có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Tuấn Em và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang; 01 (một) cây nỏ thủy tinh dài 09cm; 01 (một) cây nỏ thủy tinh dài 14cm; do vật chứng bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia X2 màu đen đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn V dùng để sử dụng cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo; là phù hợp.
Chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 68S2-5758 nhãn hiệu Best, lốc máy hiệu Longcin màu xanh đen mà bị cáo Vũ sử dụng, qua xác minh chủ xe là anh Nguyễn Văn H , ngụ ấp Đ , xã T , huyện T cho bị cáo V mượn xe đi mua thuốc uống. Qua xác minh, chiếc xe không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với người tên Võ Thị Thúy D , sinh năm 1991, ngụ ấp Đ , xã T mà bị cáo V khai là người bán ma túy cho bị cáo, không có mặt ở địa phương, đi đâu làm gì không xác định nên không đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối tượng tên Núi (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) và Lương Tấn L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng qua xác minh không xác định được Núi và Lương Tấn L không có mặt ở địa phương nên sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo được miễn án phí do thuộc hộ cận nghèo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 07/01/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1781 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong phong bì có ký hiệu vụ số 482/2021 có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Tuấn Em và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang; 01 (một) cây nỏ thủy tinh dài 09cm; 01 (một) cây nỏ thủy tinh dài 14cm.
Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo quyết định chuyển vật chứng số 20/QĐ-VKSTH ngày 30/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6 và Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn V được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện T ; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - THA Dân sự, Hình sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chiến |