- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn Phong - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2022/HS - ST Ngày 26 - 10 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quàng Văn Tiện.
2. Bà Lò Thị Thành.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2022/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cà Văn P - Sinh năm 1973; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản B, xã K, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Cà Văn N (đã chết) và bà Cà Thị B; Bị cáo có vợ là Cà Thị V và có 04 con (con lớn nhất sinh năm 1999 nhỏ nhất sinh năm 2004); Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 28/7/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 15 phút ngày 27/7/2022 tổ công tác Công an xã K phối hợp với Công an xã Z, huyện S làm nhiệm vụ rà soát người nghiện ma túy tại bản B, K, S đến nhà Cà Văn P để test thử ma túy, P thừa nhận có sử dụng ma túy và tự nguyện lấy ở dưới đệm ngủ của mình ra giao nộp cho tổ công tác 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy bên trên mảnh giấy bạc có 01 viên nén hình tròn màu hồng (P khai nhận là Hồng phiến), tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm P vật chứng theo quy định.
Ngày 28/7/2022 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã tiến hành mở niêm P cân tịnh xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy, kết quả: 01 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,11 gam, trích toàn bộ 0,11 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu P.
Kết luận giám định số 1297 ngày 29/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu P là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,11 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 27/7/2022 Cà Văn P mang theo 100.000đ đi bộ từ nhà đến đường biên giới thuộc bản B, K, S để làm nương, trên đường đi P gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng ở ven đường, P đi đến gần hỏi mua ma túy, người đàn ông bảo có nên P lấy 100.000đ ra đưa cho người này, người đàn ông nhận tiền rồi lấy từ trong túi quần đang mặc ra 01 gói nilon màu xanh rồi mở ra lấy 02 viên hồng phiến và dùng mảnh giấy bạc gói lại đưa cho P, P nhận gói ma túy cất giấu vào trong túi áo ngực đang mặc tiếp tục đi làm nương, đến khoảng 12 giờ cùng ngày khi đang ở nhà P lấy 01 viên hồng phiến ra sử dụng bằng hình thức hít qua đường hô hấp vào cơ thể, sau khi sử dụng xong P để 01 viên hồng phiến còn lại vào trong mảnh giấy bạc vừa sử dụng gói lại cất giấu dưới đệm ngủ, đến chiều cùng ngày tổ công tác Công an xã K phối hợp cùng Công an xã Z đến test thử ma túy đối với P, P đã thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tự nguyện giao nộp 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy bên trên mảnh giấy bạc có 01 viên nén hình tròn màu hồng, tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm P vật chứng theo quy định.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 138/CT-VKSSM ngày 06 tháng 10 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Cà Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Cà Văn P từ 14 – 20 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 02 mảnh giấy bạc và 01 vỏ P bì niêm P vật chứng ban đầu. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì và khi được nói lời sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 20 giờ 15 phút, ngày 27/7/2022 đối với Cà Văn P cùng vật chứng bị thu giữ là 01 viên nén màu hồng; Kết luận giám định số 1297 ngày 29/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “… Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,11 gam loại Methamphetamine”.
- Lời khai bị cáo về việc đã thường xuyên sử dụng ma tuý nên ngày 27/7/2022 đã hành vi tàng trữ 01 viên hồng phiến nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 27/7/2022 khi bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,11 gam loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự thú về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo và gia đình không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
Số ma túy thu giữ trong vụ án đã được sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại 01 vỏ P bì niêm P vật chứng ban đầu và 02 mảnh giấy bạc là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
Về người đàn ông bị cáo khai là người đã bán ma túy, bị cáo khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Cà Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Cà Văn P 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 vỏ P bì niêm P vật chứng ban đầu và 01 mảnh giấy bạc cháy xém. Tất cả được đựng trong 01 P bì đã dán kín, niêm P đúng quy định, mặt sau P bì trên giấy niêm P có mã số 081955.
- 01 mảnh giấy bạc.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 131/QĐ – VKS ngày 06/10/2022 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/10/2022 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/10/2022).
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND huyện - Công an huyện; - Trại giam; - THA hình sự ; - CCTHA Dân sự; - Sở TP; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |