vanban.org

Bản án 07/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 10/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mùa A D , phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mùa A D : 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, ngày 26/6/2022. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A D, phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mùa A D , phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU
¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HS-ST
Ngày 10 tháng 12 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Ngoãn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Măng và Ông Lê Văn Hà.

Thư ký phiên tòa: Ông Chảo Hò Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Lầu Trung Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2022 tại Nhà văn hóa bản Seo Lèng 2, xã Phìn Hồ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ mở phiên toà xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo: Mùa A D (tên gọi khác: Mùa A D ); sinh năm: 1979; nơi sinh tại huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản Kh H , xã N S , huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ng Mùa A D (đã chết) và Con bà Sùng Thị S , sinh năm 1942; Vợ: Giàng Thị V (đã chết); Bị cáo sống như vợ chồng với chị: Sùng Thị S , sinh năm 1981, trú tại bản Kh H , xã N S , huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Về nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2008/HSST ngày 09/12/2008 của Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Xử phạt bị cáo 40 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2013/HSST ngày 21/10/2013, của Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Xử phạt bị cáo 30 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Mùa A D đã chấp hành xong hình phạt chính và các quyết định khác của 02 bản án nói trên, hiện đều đã được xóa án tích; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/6/2022, đến ngày 05/7/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Sùng Thị S , sinh năm 1981, trú tại bản Kh H , xã N S , huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (là người sống như vợ chồng với Mùa A D ); vắng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh Hùng, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Mùa A D , có tên gọi khác là Mùa A D , sinh năm 1979 tại huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Trú tại bản Kh H , xã N S , huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Khai nhận, bản thân là người nghiện chất ma túy. Ngày 25/6/2022, Dình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1 – 890.22 đi từ nhà sang xã Nậm Cuổi, huyện Sìn Hồ mục đích tìm mua gạo cho gia đình. Khi đi đến bản Nậm Cọ, xã Nậm Cuổi, huyện Sìn Hồ thì gặp người đàn ng tên X (D khai sau đó biết tên là T , ở bản N C , xã N C , huyện Sìn Hồ), X hỏi D bên Nậm Sỏ có ai mua ma túy thì giới thiệu, Dình trả lời: để xem đã, rồi điều khiển xe đi tìm mua gạo rồi quay về. Đến khoảng 10 giờ ngày 26/6/2022, D điều khiển xe quay lại xã Nậm Cuổi mục đích tìm T mua ma túy để sử dụng, trên đường đi D mua một lọ nước cất và một bơm kim tiêm. Khi đi đến bản Nậm Coóng, xã Nậm Cuổi, huyện Sìn Hồ thì gặp Tấu ở ngoài đường. Tấu hỏi Dình có mua Heroine kh ng, Dình nói chưa có tiền, nếu cho nợ thì lấy một ít để sử dụng. Tấu đồng ý rồi lấy gói Heroine trong người ra, bẻ lấy một ít đưa cho D , D cho số Heroine này vào bơm kim tiêm mang theo, pha chế rồi sử dụng bằng hình thức chích ngay cạnh đường. Sau đó Tấu điều khiển xe mô tô của D chở D về phía bản Nậm Cọ, xã Nậm Cuổi, trên đường đi T dừng xe rồi một mình đi xuống bãi ruộng, một lúc sau quay lại đưa cho D 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu trắng, bên trong là lớp nilon màu xanh và nói: cứ mang về dùng đi, khi nào lên mua tiếp, trả tiền thì tính sau, sau đó Tấu đi đâu Dình không biết. Mùa A D cất gói Heroine vừa mua được vào khẩu trang đang đeo trên miệng rồi điều khiển xe quay về.

Đến hồi 15 giờ cùng ngày, khi Mùa A D về đến bản Nậm Coóng, xã Nậm Cuổi, huyện Sìn Hồ thì bị Công an yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Dình đã há miệng ra ngậm lấy gói Heroine định nhai, nuốt thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Mùa A D là 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu trắng, bên trong là lớp nilon màu xanh D đang ngậm trong khoang miệng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX FI, màu xanh đen, biển kiểm soát 25B1-890.22.

Tại bản Kết luận giám định số 34 ngày 26/6/2022 của người giám định theo vụ việc kết luận: 01 gói chất bột màu trắng thu giữ của Mùa A D (sau khi loại bỏ bao bì) có tổng khối lượng 02 gam. Cơ quan CSĐT C ng an huyện Sìn Hồ đã trích 0,46 gam chất bột, màu trắng thu giữ của Mùa A D đi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 638/GĐ-KTHS, ngày 29/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy; loại: Heroine.

Tại Bản cáo trạng số: 36/CT-VKSSH ngày 23/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Mùa A D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Mùa A D thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố là không oan, không sai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Sùng Thị S , sinh năm 1981, trú tại bản Kh H , xã N S , huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (là người sống như vợ chồng với Mùa A D ) có đơn xin xét xử vắng mặt phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, truy tố khai, chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-890.22 là do chị Sú mua bằng tiền của mình và đăng ký tên của Mùa A D . Khi D mang xe máy đi mua ma túy chị Sú không biết, chị Sùng Thị S đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Sìn Hồ xử lý vật chứng, trả lại cho chị chiếc xe mô tô này và kh ng có đề nghị gì đối với Mùa A D .

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mùa A D, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Mùa A D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu huỷ: 1,54 gam Heroine, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh nilon màu trắng bị cáo dùng để gói số Heroine, do không còn giá trị sử dụng; Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX F1, màu xanh đen, biển kiểm soát 25B1-890.22, Số khung RLHJA 3856 MY140516, số máy JA52E-0320270, xe cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Mùa A D đây là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội; đối với 0,46 gam gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật) nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa bị cáo Mùa A D luôn thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Ngoài ra bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 50 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; về hình phạt bổ sung: đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX F1, màu xanh đen, biển kiểm soát 25B1-890.22 cho Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Sùng Thị S , sinh năm 1981, trú tại bản Kh H , xã N S , huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quy định tại nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 để miễn án phí hình sự cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc trường hợp người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn theo quyết định 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tưởng chính phủ quy định về vùng miền khó khăn giai đoạn 2021 - 2025.

Ý kiến đối đáp của Kiểm sát viên: quan điểm của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Mùa A D được áp dụng Điều 50 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là kh ng đúng với nội dung quy định của điều 50 Bộ luật hình sự; trong vụ án này bị cáo Mùa A D được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không thỏa mãn các quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự, do đó chỉ có căn cứ để xem xét, xử phạt bị cáo ở mức của khung hình phạt tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng Điều 50 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo ở dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như hậu quả mà bị cáo gây ra và kh ng đúng quy định của pháp luật, do đó kh ng có căn cứ để chấp nhận. Đối với mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị, căn cứ vào khối lượng chất ma túy mà bị cáo đã tàng trữ là 02 gam, hành vi này, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến hình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Mặt khác, tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2008/HSST ngày 09/12/2008 của Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Xử phạt bị cáo 40 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2013/HSST ngày 21/10/2013, của Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Xử phạt bị cáo 30 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuy đến nay bị cáo D đã được xóa án tích đối với hai bản án nêu trên, nhưng bị cáo D đã không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh, để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, mà tiếp tục phạm tội; lần phạm tội này là cố ý, cùng với mục đích như những lần trước, thể hiện bị cáo đã không ăn năn hối cải, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, do đó cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội để có thể cải tạo, giúp bị cáo trở thành con người có ích cho xã hội. Đối với đề nghị của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, trả lại 01 chiếc xe cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Sùng Thị S là kh ng có căn cứ vì bị cáo D đã dùng xe máy làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay mặc dù bị cáo D cũng như chị S đều đã khai nhận số tiền mua xe là do chị S bỏ tiền ra để mua xe. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, tuy tố và tại phiên tòa bị cáo và chị S kh ng đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh số tiền mua chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX F1, màu xanh đen, biển kiểm soát 25B1-890.22 là do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bỏ ra. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, các tài liệu và các chứng cứ đã thể hiện có trong hồ sơ đã xác định về nguồn gốc tài sản được hình thành và các giấy tờ đều chứng minh là do bị cáo làm chủ sở hữu. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sùng Thị S không có tài liệu và chứng cứ để chứng minh công sức đóng góp số tiền để mua chiếc xe máy như đã nêu trên là của chị Sú. Vì vậy chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX F1, màu xanh đen, biển kiểm soát 25B1-890.22 thuộc sở hữu của bị cáo nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước để đảm bảo đúng các quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm, nhất trí và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37, Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều là hợp pháp.

Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, hành vi của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Mùa A D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ đã thu thập đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 15 giờ 00 phút ngày 26/6/2022, tại bản Nậm Coóng, xã Nậm Cuổi, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Mùa A D đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine, có khối lượng 02 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Sìn Hồ phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Mùa A D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến hình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2008/HSST ngày 09/12/2008 của Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Xử phạt bị cáo 40 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2013/HSST ngày 21/10/2013, của Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Xử phạt bị cáo 30 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Mùa A D đã chấp hành xong hình phạt chính và các quyết định khác của 02 bản án nói trên, hiện đều đã được xóa án tích. Sau khi chấp hành xong hình phạt của 02 bản án, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng và r n luyện bản thân, tu chí làm ăn để chăm lo phát triển kinh tế gia đình mà bị cáo lại có thái độ coi thường pháp luật. ị cáo Mùa A D lại tiếp tục thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân. Xét về nhân thân bị cáo Mùa A D là rất xấu. Hội đồng xét xử, xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo để bị cáo có thể trở thành c ng dân tốt cho gia đình và xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự với lỗi cố ý trực tiếp.

Do đó, lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Mùa A D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được chấp nhận.

Quan điểm của người bào chữa tại phiên tòa về việc đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng hình phạt và miễn án phí đối với bị cáo là có căn cứ pháp lý, phù hợp với mức độ nguy hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội, phù hợp với nhân thân nên được chấp nhận. Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Mùa A D được áp dụng Điều 50 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là chưa đúng quy định pháp luật và không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện phạm tội, bị cáo Dình là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, coi thường pháp luật đã thực hiện tàng trữ chất cấm là ma túy, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước ta cấm tàng trữ, mua bán trái phép dưới mọi hình thức nhưng bị cáo vẫn tàng trữ với khối lượng lớn nhằm mục đích sử dụng trái phép bất hợp pháp, đã gây nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm trên địa bàn tỉnh Lai Châu nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Đối với đề nghị của người bào chữa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc xem xét đề nghị Hội đồng xét xử, trả lại 01 chiếc xe m t cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sùng Thị Sú. Hội đồng xét xử xét thấy, đề nghị này là kh ng có căn cứ vì quá trình điều tra và tại phiên tòa h m nay đã xác định về nguồn gốc tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX F1, màu xanh đen, biển kiểm soát 25B1-890.22 mang tên chủ sử hữu Mùa A D đã được Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lai Châu cấp Chứng nhận đăng ký xe m t , xe gắn máy; bị cáo D đã sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của người bào chữa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Mùa A D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa. Bị cáo Mùa A D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại bản Khâu Hỏm, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế. Vì vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề trồng trọt và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu và tiêu huỷ: 1,54 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh nilon màu trắng bị cáo dùng để gói số Heroine do là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và những vật không còn giá trị sử dụng; Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX F1, màu xanh đen, biển kiểm soát 25B1-890.22, Số khung RLHJA 3856 MY140516, số máy JA52E-0320270, xe cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Mùa A D đây là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội; đối với 0,46 gam gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật) nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với đề nghị của chị Sùng Thị S về việc xem xét trả lại chiếc xe máy cho gia đình chị vì chiếc xe máy là phương tiện duy nhất của gia đình. Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của chị Sùng Thị Sú với lý do chiếc xe máy, biển kiểm soát 25B1-890.22 đăng ký đứng tên bị cáo Mùa A D là người chủ sở hữu, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Mùa A D đã dùng chiếc xe máy nêu trên vào việc phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/U TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Mùa A D là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại bản Khâu Hỏm, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên là bản đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Về biện pháp ngăn chặn: Tiếp tục tạm giam bị cáo Mùa A D để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và những người liên quan: Thông qua vụ án này, đề nghị cấp chính quyền địa phương xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên cần nâng cao tuyên truyền, giải thích cho người dân có ý thức chấp hành tốt các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tăng cường đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy và có các biện pháp giữ gìn trật tự an ninh trên địa bàn.

Về nguồn gốc số Heroine nêu trên, quá trình điều tra, truy tố bị cáo Mùa A D khai mua của một người đàn ng dân tộc Thái giới thiệu tên Xoan, sau đó D biết biết tên là T khoảng 35 tuổi, ở bản N C , xã N C , huyện Sìn Hồ. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, tại bản Nậm Coóng, xã Nậm Cuổi, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu không có ai tên là X hay T có đặc điểm như Mùa A Dình khai nên kh ng có căn cứ để điều tra, xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo.

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mùa A D , phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mùa A D : 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, ngày 26/6/2022.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3.Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 1,54 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh nilon màu trắng dùng để gói số Heroine do là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và những vật không còn giá trị sử dụng; Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX F1, màu xanh đen, biển kiểm soát 25B1-890.22, Số khung RLHJA 3856 MY140516, số máy JA52E-0320270, xe cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Mùa A D đây là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội. (Tình trạng các vật chứng nêu trên theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản, lập vào hồi 17 giờ 25 phút, ngày 29/11/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ).

4. Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ