vanban.org

Bản án 07/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 24/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung S 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung Sơn - VPGT - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH
-----------------
Bản án số: 07/2022/HS-ST
Ngày: 24/02/2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Tùng.

Các hội thẩm nhân dân: - Ông Lương Mạnh Tường.

- Ông Nguyễn Văn Phiếu.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 24/02/2022 tại trụ sở TAND huyện N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2022/TLST-HS ngày 17/01/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐXXST-HS ngày 09/02/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trung S, sinh năm 1973 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm 9, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH tư vấn và xây dựng; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Trung S (đã chết) và bà Trần Thị T (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1979 và có 03 con (con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2007); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Cháu Nguyễn Văn L (đã chết)

- Đại diện hợp pháp của bị hại cháu Nguyễn Văn L: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 và chị Phạm Thị H, sinh năm 1979.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện N,tỉnh Ninh Bình.

- 1 -

(Anh T ủy quyền cho chị H tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 03/12/2021).

Anh T vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xử vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH tư vấn và xây dựng S T.

Địa chỉ: Xóm 9, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn dân sự: Ông Nguyễn Trung S, sinh năm 1973.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Cháu Đinh Văn H, sinh ngày 24/9/2007. Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

+ Đại diện hợp pháp của cháu Đinh Văn H: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1984 và anh Đinh Văn H, sinh năm 1982. Cùng địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (Chị M ủy quyền cho anh H tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 03/12/2021)

Anh H vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xử vắng mặt.

+ Cháu Phạm Văn M, sinh ngày 8/03/2007. Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

+ Đại diện hợp pháp của cháu Phạm Văn M: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1978 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983. Cùng địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

(Chị H ủy quyền cho anh Đ tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 03/12/2021).

Chị H có mặt tại phiên tòa.

+ Cháu Cao Văn A, sinh ngày 12/9/2007. Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

+ Đại diện hợp pháp của cháu Cao Văn A: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1979 và anh Cao Văn T, sinh năm 1971. Cùng địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

(Chị H ủy quyền cho anh T tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 03/12/2021).

Anh T vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xử vắng mặt.

-Người làm chứng:

+ Anh Hồ Hữu T, sinh năm 1982 (vắng mặt tại phiên tòa).

- 2 -

+ Anh Hồ Vĩnh H, sinh năm 1981 (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trung S là người có giấy phép lái xe ô tô hạng C theo quy định của pháp luật. Ngày 18/10/2021, Nguyễn Trung S điều khiển xe ô tô nhãn hiệu FORD Everest, biển kiểm soát: 37A- 790.24 chở các anh Hồ Hữu T, sinh năm 1982 và anh Hồ Vĩnh H, sinh năm 1981 đều trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An đi từ xóm 9, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An qua địa bàn huyện N, tỉnh Ninh Bình để thi công xây dựng tại huyện Y, tỉnh Hòa Bình.

Khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày, Nguyễn Trung S điều khiển xe ô tô của mình đi trên Quốc lộ 1A hướng từ T đi thị trấn N. Khi đi đến Km 65+800 Quốc lộ 12B thuộc địa phận thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Tại thời điểm này tham gia giao thông trên Quốc lộ 1A có các cháu học sinh trường trung học cơ sở xã V là Phạm Văn M, sinh năm 2007 trú tại thôn T, xã V, huyện N và cháu Cao Văn A, sinh năm 2007 trú tại thôn T, xã V, huyện N điều khiển xe đạp đi phía trước còn cháu Nguyễn Văn L sinh năm 2007; Đinh Văn H sinh năm 2007 đều trú tại thôn T, xã V, huyện N điều khiển xe đạp đi phía sau đều đi đúng phần đường, gần sát mép đường bên phải theo chiều đi. Mặc dù đi trong điều kiện trời mưa vừa tạnh, mặt đường còn đọng nước do Nguyễn Trung S điều khiển xe ô tô đi quãng đường dài bị ngủ gật nên không làm chủ tốc độ dẫn đến xe ô tô nhãn hiệu FORD Everest, biển kiểm soát: 37A-790.24 đã đâm vào phía sau xe đạp của các cháu Nguyễn Văn L, Đinh Văn H, Cao Văn A, Phạm Văn M làm cháu Nguyễn Văn L, cháu Đinh Văn H bị ngã ngửa đều đập lưng vào nắp ca-bô sau đó ngã xuống đường còn cháu M, cháu A ngã xuống đường nhưng không bị thương.

Hậu quả:

- Cháu Nguyễn Văn L bị thương nặng “Chấn thương sọ não” bị tử vong trên đường đi cấp cứu.

- Cháu Đinh Văn H bị thương “Chấn thương sọ não: Chảy máu màng mềm” được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình từ ngày 18/10/2021 đến ngày 29/10/2021 thì xuất viện.

* Kết quả khám nghiệm tử thi cháu Nguyễn Văn L:

- Khám ngoài: Chiều dài tử thi 159cm, đang trong giai đoạn lạnh tử thi, hoen tử thi bắt đầu hình thành ở mặt sau cơ thể. Trang phục + vật dụng: Mặc áo phông cộc tay, cổ tròn, màu vàng; vùng cổ + vai áo phải rải rác bám dính máu trên diện KT (12x8)cm, dưới ngoài mặc quần dài màu đen, đeo thắt lưng da màu đen, mặt trước ống quần phải, cách gấu quần 19cm có diện trượt mài KT(17x10)cm, mặt trước ống

- 3 -

quần trái, cách gấu quần 37cm có diện trượt mài, rách vải KT(13x9)cm. Trong mặc quần sịp màu xanh.

Các dấu vết tổn thương trên cơ thể: Tóc cắt ngắn màu đen. Hai mắt nhắm hờ, đồng tử giãn căng, nhãn cầu hai bên không tổn thương. Hai lỗ mũi, hai lỗ tai khô. Vùng trán phải, sát đường chân tóc trán có diện sây sát da tụ máu, KT(8x6)cm. Vùng thái dương – đỉnh trái, cách đỉnh vành tai trái 3cm có diện sưng nề, bầm tụ máu, KT(10x7)cm. Cùng trán trái + đuôi mắt trái + gò má trái có diện sây sát da mài trượt, KT(6x4)cm. Vùng gò má phải + đuôi mắt trái + gò má trái có diện sây sát mài trượt, KT(9x8)cm. Bầm tím niêm mạc môi trên, môi dưới. Hệ thống các răng và xương hàm không có dấu hiệu dập gẫy. Cổ vững, vùng cổ gáy không có tổn thương. Ngực vững, hệ thống xương lồng ngực không có dấu hiệu dập gẫy. Vùng giữa ức, cách hõm ức 6cm có vết sây sát da, bầm tím KT(3x1)cm. Vùng bụng không có dấu vết tổn thương. Vùng giữa lưng, lệch trái có vết sây sát da, bầm tụ máu, KT(16x2,5)cm. Khung chậu vững, bộ phận sinh dục ngoài không có dấu vết tổn thương, hậu môn không có phân. Mặt trước gối phải có vết sây sát da, tụ máu KT(2x1)cm. Mặt trước trên gối trái có vết sây sát da KT(3x1)cm.

- Mổ tử thi: Tụ máu dưới da đầu vùng trán phải, KT(10x8)cm. Tụ máu dưới da đầu vùng thái dương – đỉnh trái KT(5x4)cm. Tụ máu cơ thái dương. Cơ thái dương phải thuần nhất. Xương đỉnh trái, sát phần thái dương trái có vết vỡ xương KT(2x0,4)cm. Xương trán phải, vị trí sát trên phần ổ mắt phải có vết vỡ xương KT(3x1)cm. Không chảy máu ngoài màng cứng. Chảy máu màng cứng. Chảy máu màng dưới vùng giữa hai bán cầu đại não, chảy máu màng mềm lan toả, chảy máu não thất. Nhu mô não phù, trên diện cắt phân biệt rõ chất trắng và chất xám.

Tại Bản Kết luận giám định về pháp y tử thi số 819/KLGĐ-PC09-PY ngày 28/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận nguyên nhân chết của cháu Nguyễn Văn L:

1. Các kết quả giám định chính:

Trên tử thi Nguyễn Văn L có các vết sây sát, bầm tụ máu tập trung vùng đầu mặt.

Sây sát da, tụ máu vùng trán phải. Sưng nề, bầm tụ máu vùng thái dương – đỉnh trái.

Tụ máu dưới da đầu vùng trán phải. Tụ máu dưới da đầu vùng thái dương trái. Tụ máu cơ thái dương trái. Cơ thái dương phải thuần nhất.

Vỡ xương trán phải sát trên trần ổ mắt. Vỡ xương đỉnh trái sát phần thái dương trái.

- 4 -

Chảy máu màng cứng vùng giữa hai bán cầu đại não, chảy máu màng mềm lan tỏa, chảy máu não thất. Nhu mô não phù, trên diện cắt phân biệt rõ chất trắng và xám.

2. Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn L.

Chấn thương sọ não (vỡ xương sọ, phù não, chảy máu não)./.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSNQ-HS ngày 14/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Nguyễn Trung S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1, 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung S phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

* Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Nguyễn Trung S mức phạt từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

* Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật hình sự: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung S 01 giấy phép lái xe hạng C số 400057009874 mang tên Nguyễn Trung S.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N.

Lời nói sau cùng của bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

- 5 -

Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai đã thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện, biên bản và kết luận giám định pháp y; lời khai của những người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, tất cả đều thể hiện: Khoảng16 giờ 10 phút ngày 18/10/2021, Nguyễn Trung S điều khiển xe ô tô nhãn hiệu FORD Everest, biển kiểm soát: 37A- 790.24 đi trên Quốc lộ 12B hướng từ T đi thị trấn N. Khi đi đến Km 65+800 Quốc lộ 12B thuộc địa phận thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Do Nguyễn Trung S điều khiển xe ô tô ngủ gật và không làm chủ tốc độ dẫn đến va chạm đâm vào phía sau xe đạp của các cháu Nguyễn Văn L, Đinh Văn H, Cao Văn A, Phạm Văn M đang điều khiển xe đạp đi cùng chiều ở mép đường bên phải phía trước. Hành vi nêu trên của Nguyễn Trung S đã vi phạm khoản 23, Điều 8, Luật Giao thông đường bộ gây hậu quả làm cháu Nguyễn Văn L bị tử vong.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

……………………………..

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”

Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy: Bị cáo là người có giấy phép lái xe được cấp theo đúng quy định, tuy nhiên khi tham gia giao thông không làm chủ tốc độ; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại cháu Nguyễn Văn L số tiền với tổng số tiền 270.000.000 đồng; Bồi thường chi phí điều trị và các khoản chi phí khác cho cháu Đinh Văn H số tiền 75.000.000 đồng, đại diện hợp pháp theo ủy quyền của gia đình cháu L và gia đình cháu H đã nhận tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và thành khẩn khai báo,

- 6 -

ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự được hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Trung S là người chưa có tiền án tiền sự nên đánh giá là người có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng không có.

Tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo S đã vi phạm Luật giao thông đường bộ, xâm phạm trật tự an toàn công cộng, xâm phạm đến tính mạng của người khác mặc dù không mong muốn hậu quả xảy ra, do đó cần phải xử lý nghiêm bị cáo để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành tốt giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, không có dấu hiệu bỏ trốn. Xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo tự cải tạo tại địa phương là đủ.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo S đã tự nguyện bồi thường cho gia đình cháu Nguyễn Văn L với tổng số tiền 270.000.000đ; Bồi thường chi phí điều trị và các khoản chi phí khác cho cháu Đinh Văn H số tiền 75.000.000đ. Đến nay bà Phạm Thị H là đại diện hợp pháp theo ủy quyền của gia đình cháu S; ông Đinh Văn H là đại diện hợp pháp theo ủy quyền của gia đình cháu H không yêu cầu Nguyễn Trung S phải bồi thường thêm khoản nào khác. Xét đây là sự tự nguyện của các bên nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự tự nguyện.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD Everest, màu S đỏ, biển kiểm soát: 37A-790.24 thu của Nguyễn Trung S. Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô trên là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH tư vấn và xây dựng S T. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô trên cho Nguyễn Trung S là giám đốc là phù hợp.

- Đối với 01 xe đạp nữ mini màu đỏ bạc hư hỏng nặng biến dạng cả xe thu của cháu Nguyễn Văn L; 01 xe đạp nữ mini nhãn hiệu VENTANA màu xanh dương, hư hỏng tay phanh bên trái của cháu Cao Văn A; 01 xe đạp nam địa hình nhãn hiệu ALCOTT màu S đen hư hỏng phần đuôi xe, bánh xe sau của cháu Đinh Văn H; 01 xe đạp nữ mini nhãn hiệu ERISS màu sơn đỏ hư hỏng chắn bùn bánh sau của cháu Phạm Văn M. Quá trình điều tra xác định là tài sản của gia đình các cháu Nguyễn Văn L, Cao Văn A, Đinh Văn H, Phạm Văn M. Cơ quan điều tra đã trả lại xe đạp cho đại diện hợp pháp của các cháu là bà Phạm Thị H, Cao Văn T, Đinh Văn H, Phạm Văn Đ là phù hợp. Riêng xe đẩy gom rác đã xác định của thôn T, xã V, huyện N nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn D trưởng thôn T là phù hợp. Sau khi nhận lại các tài

- 7 -

sản trên bà Phạm Thị H, Cao Văn T, Đinh Văn H, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn D không yêu cầu Nguyễn Trung S phải bồi thường.

- Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng C số 400057009874 mang tên Nguyễn Trung S cần trả lại cho bị cáo theo quy định.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung S 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự .

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của đại diện hợp pháp của người bị hại; bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về bồi thường thiệt hại.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho Nguyễn Trung S 01 Giấy phép lái xe hạng C số 400057009874 mang tên Nguyễn Trung S.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Trung S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

- 8 -

5. Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ

Cỡ chữ