vanban.org

Bản án 07/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 18/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu (bằng hình thức truy thu), nộp Ngân sách nhà nước tại bị cáo Đào Văn D tổng số tiền 50.666.624 đồng. Buộc bị cáo Đào Văn D trả lại cho anh Nguyễn Cao C số tiền 54.113.376 đồng thu lợi bất chính. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn D - Phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Về Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HS-ST
Ngày: 18-02-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Văn Vợi.

Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Mạnh – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đậu Công Hữu – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2022/TLST-HS, ngày 12 tháng 01 năm 2022.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2022 đối với:

- Bị cáo: Đào Văn D, sinh ngày 15/01/1995, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 6, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn H và bà Trần Thị H; vợ: Nguyễn Thị Khánh H và có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 02/12/2021 đến ngày 11/12/2021. Bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Cao C, sinh năm 2000; nơi cư trú: Xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 3 năm 2020, anh Nguyễn Cao C đến nhà của Đào Văn D tại xóm 6, xã N, huyện N vay số tiền 40.000.000 đồng, với mức lãi suất thoả thuận 4.000 đồng/1.000.000đồng/1 ngày. Mỗi tháng Nguyễn Cao C phải trả cho D số tiền lãi là 4.800.000 đồng. Từ tháng 4/2020 đến tháng 8/2021, Nguyễn Cao C đã trả 55.180.000 đồng tiền lãi cho D. Ngoài ra, vào tháng 11/2020 và tháng 4/2021, do không có tiền trả lãi nên Nguyễn Cao C đã sử dụng 02 bộ máy vi tính để gán nợ cho Đào Văn D. Sau đó C đã trả tiền cho D để chuộc lại 02 bộ máy vi tính với số tiền là 9.600.000 đồng. Như vậy, Đào Văn D đã nhận từ Nguyễn Cao C tổng số tiền lãi đối với khoản vay 40.000.000 đồng là 64.780.000 đồng.

Đào Văn D đã cho Nguyễn Cao C vay số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, cao gấp 7,2 lần lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

Số tiền lãi hợp pháp tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự (20%/năm = 1,66666%/tháng) đối với số tiền 40.000.000 đồng Đào Văn D đã cho Nguyễn Cao C vay từ tháng 4/2020 đến tháng 8/2021 là: 40.000.000đồng x 1,66666% x 16 tháng = 10.666.624 đồng.

Như vậy tổng số tiền Đào Văn D thu lợi bất chính từ việc cho Nguyễn Cao C vay số tiền 40.000.000 đồng là 64.780.000 đồng – 10.666.624 đồng = 54.113.376 đồng.

Ngày 02/12/2021, nhận thấy hành vi của mình là trái pháp luật, Đào Văn D đã đến Công an huyện N đầu thú và khai nhận hành vi của mình.

Cáo trạng số 10/CT-VKSNĐ ngày 10/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Đào Văn D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đào Văn D mức án từ 15 tháng đến 18 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; khấu trừ thu nhập hàng tháng từ 500.000 đồng đến 700.000 đồng để sung quỹ Nhà Nước.

Về Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền cho vay (tiền gốc) 40.000.000 đồng và số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 10.666.624 đồng. Đây là phương tiện phạm tội và số tiền phát sinh từ phạm tội, do đó đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu (bằng hình thức truy thu) tại bị cáo Đào Văn D, nộp Ngân sách Nhà nước.

- Đối với khoản tiền thu lợi bất chính 54.113.376 đồng. Đây là khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm mà người phạm tội thu lợi bất chính của người vay nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo trả lại cho người vay là anh Nguyễn Cao C.

- Quá trình điều tra, bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền 10.000.000 đồng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với nội dung bản cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Cao C có đơn xin xét xử vắng mặt và để nghị Hội đồng xét xử xem xét gải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào tháng 3/2020 tại nhà của mình, Đào Văn D đã có hành vi cho anh Nguyễn Cao C vay số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, cao gấp 7,2 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 54.113.376 đồng. Với hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" được quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính; ảnh hưởng nghiêm trọng đến các giao dịch dân sự; hành vi của bị cáo đã đẩy gia đình người vay tiền vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình trong dư luận. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi, coi thường pháp luật, bất chấp đạo lý để thực hiện hành vi phạm tội. Việc khởi tố, điều tra, đưa bị cáo ra xét xử là hết sức cần thiết nhằm xử lý, ngăn chặn hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đang có xu hướng gia tăng trên địa bàn huyện N nói riêng và cả nước nói chung.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ngoài ra bị cáo có ông ngoại được UBND tỉnh Nghệ An tặng bằng khen trong tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước; có cậu là ông Trần Văn Hoàng là Liệt sỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức phạt tiền cũng đủ nghiêm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

. Về Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền cho vay (tiền gốc) 40.000.000 đồng và số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 10.666.624 đồng. Xét thấy đây là phương tiện phạm tội và số tiền phát sinh từ phạm tội mà có, do đó cần tịch thu (bằng hình thức truy thu) tại bị cáo Đào Văn D, nộp Ngân sách Nhà nước.

- Đối với khoản tiền thu lợi bất chính 54.113.376 đồng. Xét thấy đây là khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm mà người phạm tội thu lợi bất chính của người vay và người vay không sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp, nên cần buộc bị cáo Đào Văn D trả lại cho người vay là anh Nguyễn Cao C.

- Đối với số tiền 10.000.000đồng bị cáo tự nguyện giao nộp trong quá trình điều tra cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Văn D 80.000.000 đồng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

2. Về Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu (bằng hình thức truy thu), nộp Ngân sách nhà nước tại bị cáo Đào Văn D tổng số tiền 50.666.624 đồng.

- Buộc bị cáo Đào Văn D trả lại cho anh Nguyễn Cao C số tiền 54.113.376 đồng thu lợi bất chính.

- Tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng bị cáo tự nguyện giao nộp để đảm bảo thi hành án. (Số tiền này hiện đang được gửi vào số tài khoản 3949.0.9042368.00000 tại Kho bạc Nhà nước huyện N, tỉnh Nghệ An).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đào Văn D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Văn D, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Nguyễn Cao C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ