- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - Tàng trữ TP ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2022/HS-ST Ngày: 25 - 3 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Văn An.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Tuấn và bà Vũ Thị Hiên.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Nhật Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Phạm Sỹ Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2022 (Sau đây viết tắt là: 15/02/2022) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2022/QĐXXST-HS ngày 11/3/2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1982 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị T; vợ: Nguyễn Thị A; con: Có 02 con (Lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 21/12/2021 và chuyển tạm giam từ ngày 24/12/2021 đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Anh Phạm Văn M; vắng mặt.
+ Người chứng kiến: Ông Đào Ngọc A; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13h10’ ngày 21/12/2021, tại trục đường ĐT492 thuộc địa phận thôn Q, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam, tổ tuần tra đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện L phối hợp với Công an xã V đang làm nhiệm vụ thì phát hiện Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 90H3-2676 (Sau đây viết tắt là: BKS 90H3-2676) có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện, thu giữ trong túi quần dài phía trước bên trái của Nguyễn Văn C đang mặc 01 gói giấy bạc màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT), C khai là ma túy mua về để sử dụng cá nhân. Ngoài ra, còn thu giữ của Nguyễn Văn C: 01 xe mô tô BKS 90H3-2676.
* Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn C: Không thu giữ được tài sản, đồ vật gì liên quan đến vụ án.
* Tại Kết luận giám định số: 260/PC09-MT ngày 24/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,148g (Không phảy một trăm bốn mươi tám gam) loại: Heroine”.
* Nguyễn Văn C khai về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ: Khoảng 12h40’ ngày 21/12/2021, C điều khiển xe mô tô BKS 90H3-2676 đi từ nhà đến khu vực ven đường gần Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Sau đó, điều khiển xe mô tô đi về để sử dụng, khi đi đến địa phận thôn Q, xã V thì bị Công an bắt quả tang.
* Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện.
* Về vật chứng: Chiếc xe mô tô BKS 90H3-2676 được xác định là tài sản cá nhân hợp pháp của chị Nguyễn Thị A (vợ của Nguyễn Văn C). Ngày 06/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô này cho chị Nguyễn Thị A. Vật chứng còn lại đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân.
Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSLN ngày 15/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Văn C về tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Sau đây viết tắt là: BLHS).
* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS: Xử phạt Nguyễn Văn C từ 15 đến 18 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng hiện đang thu giữ.
- Bị cáo Nguyễn Văn C đã thừa nhận và khai báo toàn bộ hành vi cất giấu trái phép chất ma túy của mình vào trưa, chiều ngày 21/12/2021 đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì. Bị cáo không có ý kiến gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, kết luận giám định và lời khai của người tham gia tố tụng khác, bản thân đã nhận thức rõ sai phạm, ăn năn hối lỗi và đề nghị HĐXX xem xét đến nhân thân, hoàn cảnhgia đình đểgiảm nhẹhình phạt.
- Chị Nguyễn Thị A trình bầy: Chị và bị cáo Nguyễn Văn C kết hôn năm 2011, chiếc xe mô tô BKS 90H3-2676 là tài sản cá nhân của chị mua năm 2007 để làm phương tiện đi lại của bản thân; chị hoàn toàn không biết việc bị cáo sử dụng xe để thực hiện tội phạm, chị đã nhận lại chiếc xe mô tô trên và không có đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với diễn biến nội dung vụ án được ghi nhận tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, các vật chứng thu giữ tại hiện trường, kết luận giám định về ma túy, cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, ngoài ra còn phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Hồi 13h10’ ngày 21/12/2021, tại trục đường ĐT492 thuộc địa phận thôn Q, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn C đang có hành vi cất giấu trái phép 0,148 (Không phẩy một trăm bốn mươi tám) gam chất ma túy, loại Heroine để sử dụng cá nhân thì bị lực lượng Công an huyện L phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn C đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn C là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương mà còn trực tiếp gây tổn hại đến chính sức khỏe cũng như hạnh phúc gia đình và tương lai của bị cáo. Bản thân bị cáo là người đã có gia đình ổn định nhưng lại thiếu gương mẫu, không làm chủ được bản thân nên đã sa vào nghiện ngập ma túy, dẫn đến phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, cũngnhư đáp ứngcôngtácphòng,chốngtộiphạm chungtrong tình hìnhhiệnnay.
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời luôn thể hiện rõ sự ăn năn hối cải trước pháp luật và gia đình, mong muốn sửa chữa lỗi lầm; số ma túy mà bị cáo tàng trữ trong vụ án có trọng lượng không đáng kể, mới trên møc tèi thiÓu cña cÊu thµnh ®Þnh téi không nhiều (0,148 gam Heroin); qua xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú thì gia đình bị cáo gặp nhiều khó khăn, hiện đang phải nuôi dưỡng 02 con còn nhỏ (Lớn 7 tuổi, nhỏ 5 tuổi), vợ luôn đau yếu, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do đó, bị cáo được hưởng cáctìnhtiếtgiảm nhẹquy địnhtạiđiểm skhoản1và khoản2Điều51BLHS.
HĐXX cân nhắc yếu tố nhân thân và các tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm tái hòa nhập cộng đồng trở về đoàn tụ cùng gia đình, cũng như thấy được tính nhân đạo của Nhà nước về chính sách hình sự đối với người phạm tội.
Xét thấy cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án hình sự, nên Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự .
Về hình phạt bổ sung: Xét mục đích phạm tội của bị cáo không để thu lợi bất chính nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 249 BLHS.
Về xử lý vật chứng:
- Số Heroine thu giữ của bị cáo cùng bao gói, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam hoàn trả sau giám định, là chất Nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu và tiêu huỷ.
- Đối với chiếc xe mô tô BKS 90H3-2676, HĐXX xác định đây là tài sản cá nhân hợp pháp của chị Nguyễn Thị A, chị A không biết việc bị cáo sử dụng xe để mua ma túy sử dụng. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lý Nhân đã trả lại chiếc xe mô tô này cho chị A là phù hợp, đảm bảo đúng quy định của pháp luật, HĐXX không đề cập.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Về vấn đề khác: Trong vụ án này, Nguyễn Văn C khai đi đến khu vực ven đường gần Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam mua ma túy của một người đàn ông (nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu). Ngoài lời khai duy nhất của bị cáo, không có thông tin, tài liệu chính xác về đối tượng trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật, do đó HĐXX không đề cập.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Tuyênbố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội“Tàngtrữtráiphépchất matuý”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2021.
[2] Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì dán kín niêm phong số 260/PC09-MT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT”.
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 15/02/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Lý Nhân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân).
[3] Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Trại giam CA tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Lý Nhân; - Công an huyện Lý Nhân; - Chi cục THADS huyện Lý Nhân; - Bị cáo; Ngườicó quyền lợi,nghĩa vụliênquan; - Lưu: Hồ sơ + Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đinh Văn An |