- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo: Lê Thị S phạm tội: “Đánh bạc”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2022/HS - ST Ngày 27 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Liên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tri - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2022/HSST ngày 13 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Thị S; sinh ngày 20/10/1960 tại xã V, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu X, xã V, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Đ (Đã chết) và bà: Kiều Thị K (Đã chết); có chồng: Nguyễn Văn G, sinh năm 1958 và có 04 con: Lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không.
Tiền sử phạm tội, vi phạm: Bản án số 51/2016/HSST ngày 04/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao xử phạt Lê Thị S 7.000.000đ về tội Đánh bạc, Lê Thị S đã chấp hành xong hình phạt và tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 22/6/2016.
Bị cáo tạm giữ từ ngày 15/11/2022 đến ngày 18/11/2022. Áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/11/2022. Hiện bị cáo tại ngoại tại xã V, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1958 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu X, xã V, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 17 giờ 00 phút ngày 15/11/2022 tại nhà ở của Lê Thị S, sinh năm: 1960, trú tại: Khu X xã V, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Lê Thị S có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Hoàng A, sinh năm: 1996, trú tại: Khu Y xã Z, huyện Lâm Thao và Hoàng Văn V2, sinh năm: 1971, trú tại: Khu X xã J, huyện Lâm Thao. Cụ Thể: S bán cho A 05 số lô và 02 số đề với tổng số tiền mua là 2.700.000đ, S cho A được hưởng hoa hồng của việc mua số đề là 40.000đ để A ghi thêm 01 số đề, như vậy tổng số tiền đánh bạc của S với A là 2.740.000đ. Tổng số tiền đánh bạc của S với V2 là 2.500.000đ. Tổng số tiền S đánh bạc với A và V2 trong ngày 15/11/2022 là 5.240.000đ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Thị S, thu giữ vật chứng gồm: 01 mảnh giấy ô li kích thước 5,5x12,5cm, một mặt trắng, một mặt ghi nhiều chữ và số tự nhiên bằng mực màu xanh; 01 mảnh giấy ô li kích thước 6x11,6cm, một mặt trắng, một mặt ghi nhiều chữ và số tự nhiên bằng mực màu xanh; 01 quyển vở học sinh bìa màu xanh, bên trong có nhiều tờ giấy ghi nhiều chữ và số tự nhiên bằng mực màu xanh; 01 chiếc bút bị có mực màu xanh; số tiền 5.200.000đ.
Cùng ngày, cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thị S, quá trình khám xét thu giữ tại phòng ngủ nhà ở của Lê Thị S phát hiện và thu giữ số tiền 1.900.000đ. Trong quá trình điều tra xác định số tiền trên là tài sản riêng của ông Nguyễn Văn G, sinh năm: 1958, trú tại: Khu X xã V, là chồng của Lê Thị S, ông G không biết và không liên quan đến hành vi đánh bạc của Lê Thị S vào ngày 15/11/2022.
Vật chứng và tài sản thu giữ được bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện Lâm Thao.
Đối với Nguyễn Hoàng A và Hoàng Văn V2 có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề của Lê Thị S vào ngày 15/11/2022, tuy nhiên mức tiền đánh bạc đều dưới 5.000.000đ, về nhân thân thì A và V2 đều không có tiền án, tiền sự về hành vi quy định tại Điều 321, Điều 322 Bộ luật hình sự nên xác định hành vi của A và V2 không cấu thành tội phạm nên cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với A và V2.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Lê Thị S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 01/QĐ - VKSLT ngày 12/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao đã truy tố bị cáo Lê Thị S về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện lâm Thao giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, xử phạt bị cáo:
- Lê Thị S từ 24 đến 30 tháng cải tạo không giam giữ về tội đánh bạc. Bị cáo được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ là 03 ngày (từ ngày15/11/2022 đến ngày 18/11/2022) quy đổi = 09 ngày cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo S. Buộc bị cáo Lê Thị S phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.
Về hình phạt bổ sung: Viện kiểm sát đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo S.
Về xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp:
Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.200.000 đ (Năm triệu hai trăm nghìn đồng);
Tiêu hủy 01 quyển vợ học sinh bìa màu xanh, bên trong có nhiều tờ giấy ghi nhiều chữ và số tự nhiên bằng mực màu xanh, có 02 tờ giấy bị xé rách ở phần góc phía bên trên bên phải, 01 tờ bị xé rách ½ dọc theo tờ giấy; 01chiếc bút bi có mực màu xanh; đã qua sử dụng.
Trả lại cho ông Nguyễn Văn G số tiền 1.900.000 đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng).
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Trước khi tuyên án, bị cáo nói lời nói sau cùng:
Bị cáo Lê Thị S rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 15/11/2022 tại nhà ở của Lê Thị S, sinh năm: 1960, trú tại: Khu X xã V, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Lê Thị S có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Hoàng A và Hoàng Văn V2. Tổng số tiền S đánh bạc với A và V2 là 5.240.000 đồng thì bị bắt quả tang. Như vậy, có đủ căn cứ để khẳng định quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao truy tố bị cáo về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Vụ án tuy thuộc loại tội ít nghiêm trọng, song hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, năng lực hành vi để nhận thức được hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề là vi phạm pháp luật gây mất rật tự công cộng, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác cũng như ảnh hưởng đến kinh tế hạnh phúc gia đình nhưng vì mục đích vụ lợi muốn có tiền tiêu sài không phải lao động nên bị cáo vẫn cố tình phạm tội, vì vậy cần phải đưa ra xét xử và có hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Bị cáo Lê Thị S không có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu. Ngày 04/5/2016 Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, xử phạt Lê Thị S 7.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; S đã chấp hành xong khoản tiền phạt và án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, ở lần phạm tội này bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc không lớn, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về điều kiện kinh tế và mục đích phạm tội của bị cáo S, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Hiện nay, bị cáo Lê Thị S lao động tự do, không có việc làm nên không khấu trừ thu nhập để sung quỹ Nhà nước đối với bị cáo. Vì vậy theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự, cần buộc bị cáo Lê Thị S phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung:
Quá trình điều tra xác minh bị cáo Lê Thị S không có tài sản gì riêng nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Cần tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.200.000 đ (Năm triệu hai trăm nghìn đồng);
Cần tịch thu tiêu hủy 01 quyển vợ học sinh bìa màu xanh, bên trong có nhiều tờ giấy ghi nhiều chữ và số tự nhiên bằng mực màu xanh, có 02 tờ giấy bị xé rách ở phần góc phía bên trên bên phải, 01 tờ bị xé rách ½ dọc theo tờ giấy; 01chiếc bút bi có mực màu xanh; đã qua sử dụng.
Cần trả lại cho ông Nguyễn Văn G số tiền 1.900.000 đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng) cơ quan điều tra thu giữ là tiền của ông G không liên quan gì đến vụ án.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/12/2022).
Đối với Nguyễn Hoàng A và Hoàng Văn V2 có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề của Lê Thị S vào ngày 15/11/2022, tuy nhiên mức tiền đánh bạc đều dưới 5.000.000đ, về nhân thân thì A và V2 đều không có tiền án, tiền sự về hành vi quy định tại Điều 321, Điều 322 Bộ luật hình sự nên xác định hành vi của A và V2 không cấu thành tội phạm nên cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với A và V2 là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao đề nghị về hình phạt đối với bị cáo, xử lý vật chứng, án phí, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[1] Tuyên bố bị cáo: Lê Thị S phạm tội: “Đánh bạc”
[2] Xử phạt:
- Bị cáo Lê Thị S 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ là 03 (ba) ngày (Từ ngày15/11/2022 đến ngày 18/11/2022) quy đổi = 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại là 23 (Hai mươi ba) tháng 21(Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã V, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án đối với bị cáo. Giao bị cáo S cho UBND xã V, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã V, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo Lê Thị S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Lê Thị S.
Buộc bị cáo Lê Thị S phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 4 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
Bị cáo Lê Thị S phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Thị S.
[3] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.200.000 đ (Năm triệu hai trăm nghìn đồng);
Tịch thu tiêu hủy 01 quyển vợ học sinh bìa màu xanh, bên trong có nhiều tờ giấy ghi nhiều chữ và số tự nhiên bằng mực màu xanh, có 02 tờ giấy bị xé rách ở phần góc phía bên trên bên phải, 01 tờ bị xé rách ½ dọc theo tờ giấy; 01chiếc bút bi có mực màu xanh; đã qua sử dụng.
Trả lại cho ông Nguyễn Văn G số tiền 1.900.000 đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng).
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/12/2022).
[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị S phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị TAND tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND huyện Lâm Thao; - Công an huyện Lâm Thao; - Cơ quan THAHS huyện Lâm Thao; - Chi cục THADS huyện Lâm Thao; - UBND xã V - Lưu: HS+ VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Liên |