vanban.org

Bản án 07/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 24/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế A, sửa bản án sơ thẩm,

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07-5-2021.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế A “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế A, sửa bản án sơ thẩm,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HS-PT
Ngày: 24-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Đức Cảnh

Ông Vũ Hà Nam

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Ngọc Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Hùng - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2021/TLPT-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐXXPT-HS ngày 13 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thế A, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HS-ST ngày 16-11-2021 của Toà án nhân dân huyện Ý Yên.

- Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên Nguyễn Thế A (tên gọi khác là V); sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ 1, thị trấn L, huyện Y, tỉnh N; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu N và bà Trương Thị N1; có vợ Phạm Thị Đ và ba con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 55/2014/HSST, ngày 21/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ngày 13/8/2015 chấp hành xong hình phạt. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/5/2021, đến ngày 13/5/2021 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng:

1. Anh Vũ Tiến Đ1;

2. Ông Vũ Văn P;

3. Anh Đỗ Văn C;

4. Chị Dương Thị H;

5. Chị Phạm Thị Đ;

6. Anh Dương Xuân T.

Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt những người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ V án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung V án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07-5-2021, Tổ công tác Công an huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định phát hiện một người đàn ông đang điều khiển xe máy không đội mũ bảo hiểm có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính, người đàn ông khai tên Nguyễn Thế A - Sinh năm 1972; trú tại: Tổ 1 thị trấn L, huyện Y, tỉnh N. Quá trình kiểm tra thu giữ tại túi quần trước bên phải của Nguyễn Thế A đang mặc có 02 gói ni lông màu trắng bên trong đều chứa các hạt tinh thể màu trắng; Nguyễn Thế A khai nhận đó là 02 gói ma túy mang theo mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong 02 gói ma túy trên (ký hiệu M) và đưa Nguyễn Thế A về Ủy ban nhân dân xã Yên Hưng, huyện Ý Yên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tạm giữ của Nguyễn Thế A 01 xe máy nhãn hiệu Exciter BKS: 592.96.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thế A ở Tổ 1, thị trấn L, huyện Y, tỉnh N thu giữ:

Trên mặt bàn gỗ đặt dưới gầm cầu thang 01 hộp sắt màu trắng có nắp màu cam bên trong có 05 gói ni lông màu trắng bên trong đều chứa các hạt tinh thể dạng cục màu trắng được niêm phong (ký hiệu K1); 01 gói ni lông màu trắng bên trong chưa các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu K2). Trong hộp giấy màu trắng để trên mặt bàn 01 gói ni lông màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng niêm phong (ký hiệu K3). Trong ngăn kéo bàn 01 gói ni lông màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng niêm phong (ký hiệu K4) và 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có 03 viên dạng nén hình tròn màu hồng niêm phong (ký hiệu K5).

Ngoài ra còn thu giữ 01 gói ni lông màu trắng bên trong có 17 túi ni lông màu trắng với nhiều kích thước khác nhau, 02 cân tiểu ly, 01 ống nhựa màu trắng dài 15cm một đầu vót nhọn.

Tại kết luận giám định số 582/GĐKTHS, ngày 11/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 04 (bốn) phong bì được niêm phong ký hiệu M, K1, K2, K4 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Tổng trọng lượng (tổng khối lượng) mẫu M: 6,859 gam; Tổng trọng lượng (tổng khối lượng) 04 gói trong mẫu K1: 1,454 gam; Tổng trọng lượng (tổng khối lượng) mẫu K2: 2,486 gam; Tổng trọng lượng (tổng khối lượng) mẫu K4: 15,886 gam. Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng đục trong 01 gói ni lông màu trắng trong phong bì được niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Ketamine. Trọng lượng (khối lượng) mẫu là: 0,351 gam. Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói ni lông màu trắng trong phong bì được niêm phong ký hiệu K3 gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Trọng lượng (khối lượng) mẫu K3: 2,462 gam. Mẫu gồm 03 viên nén hình tròn màu hồng trên bề mặt mối viên đều có chữ WY trong 01 gói giấy bạc màu trắng trong phong bì được niêm phong ký hiệu K5 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Tổng trọng lượng (khối lượng) mẫu K5: 0,305 gam.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ Nguyễn Thế A khai nhận: Chiều tối ngày 06/5/2021 do có quen biết với Đỗ Văn C, sinh năm 1980 trú tại Đội 2, xã Y, huyện Y, tỉnh N làm nghề lái xe taxi, thường đỗ xe tại khu vực ngã ba C, xã Y, huyện Y nên Nguyễn Thế A đã gọi điện cho C đến nhà đưa cho C 01 phong bì thư bên trong có 10.000.000 đồng rồi nhờ C đi ra thành phố Nam Định mua hộ ma tuý. Sau khi mua được ma tuý C quay về đưa cho Nguyễn Thế A và được trả công 500.000 đồng. Việc trao đổi giữa Nguyễn Thế A và Đỗ Văn C chỉ có hai người biết. Sau khi mua được ma tuý Nguyễn Thế A tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra Đỗ Văn C khai nhận có quen biết với Nguyễn Thế A. Ngày 06-5-2021, Nguyễn Thế A gọi điện cho C đến nhà rồi đưa 01 phong bì thư bên trong có tiền, C không biết là bao nhiêu và bảo C đi ra khu vực ngã tư Phạm Ngũ Lão, thành phố Nam Định để lấy đồ. Sau khi ra đến thành phố Nam Định, C gọi điện lại cho Nguyễn Thế A; sau đó chờ một lúc thì thấy 01 người phụ nữ, C không biết rõ tên, tuổi địa chỉ ở đâu đi đến đưa cho C 01 gói ni lông màu đen buộc cẩn thận, C đưa cho người phụ nữ phong bì thư mà Nguyễn Thế A đưa sau đó C quay về đưa gói đồ trên cho Nguyễn Thế A và được Thế A trả công 500.000 đồng.

Quá trình điều tra chưa có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của Đỗ Văn C và người phụ nữ đã đưa ma tuý cho C nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý Yên đã tách ra để xác minh, xử lý sau.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter BKS: 592.96 thu giữ của Nguyễn Thế A, quá trình điều tra xác định giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Vũ Văn Phong ở xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, nhưng chưa xác minh được chính xác chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý Yên tách ra để tiếp tục xác minh xử lý sau.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HS-ST ngày 16-11-2021 của Toà án nhân dân huyện Ý Yên đã quyết định:

Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249 (với tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249); điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07-5-2021.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo

Ngày 23-11-2021 bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung: Toà án xét xử bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý là đúng, nhưng mức hình phạt 9 năm 6 tháng tù là quá nặng, đề nghị Toà án tỉnh xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bố mẹ đều già yếu, vợ bị bệnh hiểm nghèo, con còn quá nhỏ, bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được với gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm: Đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về nội dung: Tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo xuất trình chứng cứ thể hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, vợ bị cáo bị ung thư, đây là tình tiết mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, sửa bản án sơ thẩm giảm cho bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung V án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ V án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có căn cứ xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện trong V án đều hợp pháp.

Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07/5/2021, tại khu vực thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh N. Tổ công tác Công an huyện Ý Yên tỉnh Nam Định bắt quả tang Nguyễn Thế A có hành vi tàng trữ trái phép 6,859gam Methamphetamine mục đích để sử dụng; khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Nguyễn Thế A thu giữ 20,131gam Methamphetamine; 0,351gam Ketamine và 2,462gam Heroine với mục đích sử dụng. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về mức hình phạt: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 9 năm 6 tháng tù là tương đối phù hợp. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo xuất trình chứng cứ thể hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo đặc biệt khó khăn, bố mẹ đều già yếu trên 80 tuổi, vợ bị ung thư, các con đều còn nhỏ, nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, sửa án sơ thẩm giảm cho bị cáo một phần hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về chăm lo cho gia đình, thể hiện bản chất nhân đạo khoan hồng của pháp luật.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do sửa án sơ thẩm, nên người kháng cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS,

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế A, sửa bản án sơ thẩm,

Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS,

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07-5-2021.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị;

2. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người bị thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ