- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị M yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn P"
- Tòa quyết gì? ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| HUYỆN CƯ M’GAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2022/HNGĐ-ST Ngày 31/3/2022 “V/v: Ly hôn” . |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thịnh
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Duy Thanh
2. Bà Cao Thị Hồng Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Cư M’Gar.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk tham
gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xét xử sơ
thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 370/2021/TLST – HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2021, về việc “Kiện ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST- HNGĐ, ngày 25 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15/3/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1993. (vắng mặt - Có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Buôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1992. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Buôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị
Nguyễn Thị M trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn P chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào
tháng 7/2020 tại UBND xã E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk. Vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã xích mích và không sống chung được với nhau. Anh P nghiện ngập, rượu chè về thường hay chửi bới, xúc phạm và có vài lần đánh đập chị, chị không không chịu đựng được nên đã ly thân và vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ tháng 10/2020 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không còn ở chung với nhau nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.
Về con chung, chị và anh P không có con chung, Về tài sản chung chị M
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy
triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Văn P đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy
định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn P
kết hôn tuân thủ đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét thấy, có căn cứ xác định mâu thuẫn tình cảm của vợ chồng chị M, anh P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Vì vậy, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận cho chị M được ly hôn với anh P là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung, chị M, anh P không có con chung nên chị M không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M khởi
kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn P, cư trú tại xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do; nguyên đơn chị Nguyễn Thị M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn P kết
hôn tuân thủ đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo nguyên đơn chị M trình bày quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên cãi vả, xích mích, anh P chửi bới xúc phạm và một vài lần đánh đập chị. Anh P thường hay nghiện ngập, rượu chè. Qua xác minh tại địa phương thì thể hiện, anh P thuộc đối tượng nghiện hút, hay bỏ nhà đi lang thang, giữa chị M và anh P có xảy ra mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Hiện nay, chị M và anh P không còn chung sống với nhau.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh P nhiều lần đến
Tòa án để giải quyết vụ án, tạo điều kiện cho chị M và anh P gặp gỡ giải quyết những mâu thuẫn tình cảm để đoàn tụ nhưng anh P đều vắng mặt không tham gia tố tụng, điều đó chứng tỏ anh P không quan tâm đến quan hệ hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, có căn cứ để xác định mâu thuẫn tình cảm của vợ chồng chị M và anh P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận cho chị M được ly hôn với anh P là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn P không có
con chung nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và
gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị
M.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn
P.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân
và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà chị M đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 60AA/2021/0007833 ngày 09/12/2021 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có
quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Cư M’gar; - Chi cục THADS huyện C; - UBND xã E, huyện C; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Đỗ Văn Thịnh |