- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Mộng K - Biện Hoàng Ân"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Mộng K đối với anh Biện Hoàng A. Cho chị Phạm Mộng K được ly hôn anh Biện Hoàng A.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2022/HNGĐ-ST Ngày 20-01-2022 V/v ly hôn, nuôi con chung. |
NHA DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHA DA THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ca Kiều Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
2. Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhA dA tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 18/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2021 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Mộng K, sinh năm 1990, (có mặt)
Địa chỉ: Ấp G, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Bị đơn: Anh Biện Hoàng A, sinh năm 1985, (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp G, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Mộng K trình bày: Năm 2011, chị Phạm Mộng K và anh Biện Hoàng A tự nguyện chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, thị xã G cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 17/4/2012. Trong thời gian chung sống thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến cải vã, anh A thường xuyên bỏ nhà đi mà không nói với chị K là đi đâu, mỗi lẫn vợ chồng cải nhau là anh A đều bỏ nhà đi, chị K cũng không biết anh A đi đâu, anh A không cùng ở nhà chăm sóc con cái với chị K và lần đi gần đây nhất là hơn 05 tháng mới về nhà. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn tiếp tục chung sống, hôn nhA không còn hạnh phúc nên chị K xin ly hôn với anh A. Chị K và anh A có 01 con chung tên Biện Hoàng Khá, sinh ngày 28/6/2011. Từ trước đến nay cháu Khá được chị K trực tiếp chăm sóc và hiện nay cháu cũng đang sống với chị, nên chị K yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu Khá, không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung chị K xác định chị và anh A không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Biện Hoàng A trình bày: Về việc chung sống và kết hôn như chị K trình bày là đúng sự thật. Trong thời gian vợ chồng chung sống cũng có mâu thuẫn, cải vã nhưng chỉ là chuyện vợ chồng cự cải bình thường không có gì nghiêm trọng, anh A thường xuyên đi khỏi nhà để làm ăn chứ không phải bỏ nhà đi như chị K trình bày, việc anh A bỏ đi gần đây hơn 05 tháng là do đi mua cua ở Hà Tiên, Kiên Giang, do dịch bệnh nên anh A không về nhà được. Vợ chồng cự cãi do chị K nói anh A đi chơi không lo làm ăn, so sánh anh A với người khác anh A không đồng ý nên vợ chồng mới cự cải. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng không đến mức trầm trọng phải ly hôn nên anh A không đồng ý ly hôn với chị K. Về con chung, anh A xác định vợ chồng có 01 con chung tên Biện Hoàng Khá, sinh ngày 28/6/2011. Do anh A thường xuyên đi làm ăn nên cháu Khá được chị K trực tiếp chăm sóc đã quen nên trong trường hợp phải ly hôn thì anh A đồng ý giao cháu Khá cho chị K trược tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung, anh A xác định vợ chồng không có, không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm này thấy rằng những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dA sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dA sự về phiên tòa sơ thẩm. Các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dA sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhA và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Mộng K. Cho chị Phạm Mộng K ly hôn anh Biện Hoàng A. Giao con chung là Biện Hoàng Khá, sinh ngày 28/6/2011 cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhA gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án hôn nhA gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn chị Phạm Mộng K và bị đơn anh Biện Hoàng A cùng cư trú tại ấp G, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã G theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Bị đơn anh Biện Hoàng A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm, nhưng anh A vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 20/12/2021. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng DA sự xét xử vắng mặt anh A theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Vào năm 2011, chị Phạm Mộng K và anh Biện Hoàng A tự nguyện chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 17/4/2012 đúng theo quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhA hợp pháp. Trong quá trình chung sống, chị K xác định vợ chồng mâu thuẫn, cãi vã do anh A thường xuyên bỏ nhà đi, không chăm lo cho gia đình vợ con, đời sống vợ chồng lạnh nhạt làm chị K không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu xin ly hôn với anh A. Anh A thì cho rằng vợ chồng có cải vã, nhưng không phải là mâu thuẫn trầm trọng đến mức ly hôn, nên anh A không đồng ý ly hôn với chị K.
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo biên bản xác minh chính quyền địa phương ngày 27/12/2021, đại diện chính quyền địa phương xác định vợ chồng anh A và chị K có cư trú tại ấp G, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Trong thời gian chung sống thì vợ chồng cũng có cãi vã, anh A thường xuyên đi khỏi nhà, nhưng do là việc vợ chồng mâu thuẫn, cải vã trong gia đình nên địa phương để vợ chồng tự dàn xếp, nếu không dàn xếp được mới can thiệp giải quyết. Như vậy, sự việc vợ chồng mâu thuẫn, cải vã và anh A thường xuyên đi khỏi nhà là có thật trên thực tế được anh A, chị K trình bày cùng với xác nhận của địa phương. Anh A cho rằng anh A bỏ nhà đi làm ăn, mâu thuẫn không đến mức phải ly hôn, nhưng anh A không có biện pháp gì để hàn gắn vợ chồng tiếp tục chung sống nên tại phiên tòa chị K vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Hơn nữa, hôn nhA là sự tự nguyện chung sống nhưng chị K đã không đồng ý tiếp tục chung sống với anh A và kiên quyết xin ly hôn. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị K và anh A đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhA không đạt được. Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cho chị K được ly hôn với anh A là phù hợp.
Về con chung: Chị Phạm Mộng K và anh Biện Hoàng A thống nhất xác định có một con chung là Biện Hoàng Khá, sinh ngày 28/6/2011, từ trước đến nay cháu Khá sống cùng chị K. Chị K và anh A thống nhất thỏa thuận giao cháu Khá cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; chị K không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con. Như vậy, chị K và anh A có sự thỏa thuận thống nhất về việc nuôi con, cấp dưỡng và cũng theo nguyện vọng muốn sống cùng mẹ của cháu Khá. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo cuộc sống tốt nhất về mọi mặt cho con chung, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình giao con chung là Biện Hoàng Khá, sinh ngày 28/6/2011cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, anh A không có nghĩa vụ cấp dương nuôi con, do chị K không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng. Anh A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Mộng K và anh Biện Hoàng A thống nhất tài sản chung tự thỏa thuận và không có nợ chung, nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị Phạm Mộng K là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dA sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Mộng K đối với anh Biện Hoàng A. Cho chị Phạm Mộng K được ly hôn anh Biện Hoàng A.
2. Về con chung: Giao con chung là là Biện Hoàng Khá, sinh ngày 28/6/2011 cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, chị K không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con. Anh A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Mộng K và anh Biện Hoàng A thống nhất xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Mộng K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, chị K đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0003751 ngày 02/12/2021 của Chi cục thi hành án dA sự thị xã G, nay được chuyển thu án phí.
Án xử sơ thẩm công Ki, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND Tx. G; - Chi cục THADS Tx. G; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; Tòa. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ca Kiều Nguyệt |