vanban.org

Bản án 07/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đối với bị đơn ông Phan Cảnh Ph, bà Lê Thị Kim Oa về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản.

Buộc ông Phan Cảnh Ph, bà Lê Thị Kim Oa phải trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền nợ gốc là 299.995.396 đồng (Bằng chữ: Hai trăm chín mươi chín triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn, ba trăm chín mươi sáu đồng). Buộc ông Phan Cảnh Ph, bà Lê Thị Kim Oa phải trả cho Ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N với Phan Cảnh Ph"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đối với bị đơn ông Phan Cảnh Ph, bà Lê Thị Kim Oa về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN NAM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/DS – ST
Ngày: 25 – 7 – 2022
V/v tranh chấp “hợp đồng tín dụng;
Hợp đồng thế chấp tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Long;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Xuân;

Bà Bùi Thị Thanh Yên;

- Thư ký phiên tòa: Ông Quảng Đại Phát – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 23/2022/TLST – DS ngày 26 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST – DS ngày 07 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2022/QĐ – HPT ngày 30 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Địa chỉ: Số 02 Láng H, phường Thành C, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

-Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn Th, chức vụ: Tổng giám đốc.

-Người đại diện ủy quyền hợp pháp tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Xuân Th, chức vụ: Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng – Chi nhánh huyện Ninh Phước Ninh Thuận (Văn bản ủy quyền số: 249A/NHNoNT - NP ngày 04 – 4 – 2022 (Có mặt).

Địa chỉ: khu p 4, thị trấn Ph D, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

2. Bị đơn: Ông Phan Cảnh Ph, sinh năm 1962, bà Lê Thị Kim Oa, sinh năm 1968 (Vắng mặt).

Địa chỉ: thôn Lạc Ng 01, xã Cà N, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Ngày 30 – 01 – 2018, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. (gọi tắt là Agribank) ký hợp đồng tín dụng (Hợp đồng vay) số 159672283/HĐTD với ông Phan Cảnh Ph. Agribank cho ông Ph vay số tiền là 230.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm ba mươi triệu đồng), thời hạn vay 36 tháng, lãi suất thỏa thuận là 10%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay (15%/năm), mục đích mua ngư lưới cụ. Để bảo đảm cho số tiền vay, ông Ph, bà Oa đã thế chấp tài sản quyền sử dụng đất chung của vợ chồng là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM574972 do Ủy ban nhân dân huyện Thuận Nam cấp ngày 28/12/2012, theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 107613A/HĐTC ngày 19 – 8 – 2013 do Văn phòng công chứng Thuận Nam chứng thực. Giấy chứng nhận tàu cá số NT – 90615 – TS do Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 09/11/2010, công suất máy 110cv, theo hợp đồng thế chấp tài sản số 107613/HĐTC ngày 19/8/2013 do Văn phòng công chứng Thuận Nam chứng thực.

Các bên đã hoàn tất hợp đồng vay vốn, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản. Toàn bộ số tiền 230.000.000 đồng Agribank đã chuyển giao cho ông Ph, bà Oa theo đúng quy định. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Ph, bà Oa đã trả được tiền gốc 4.606 đồng; tiền lãi 21.173.278 đồng, Agribank đã thiện chí và nhiều lần nhắc nhở ông Ph, bà Oa tuy nhiên ông Ph, bà Oa không có thiện chí trả nợ. Ngày 31 – 01 – 2021, Agribank đã chuyển toàn bộ khoản tiền nợ của ông Ph, bà Oa sang nợ quá hạn và tính đến ngày 12 – 3 – 2022 ông Ph, bà Oa còn nợ số tiền gốc là 299.995.396 đồng, tiền lãi trong hạn 72.400.415 đồng; tiền lãi quá hạn 12.224.412 đồng.

Để đảm bảo việc thu hồi nợ, Agribank yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Ph, bà Oa phải có nghĩa vụ:

+ Thanh toán số tiền nợ gốc là 299.995.396 đồng, tiền lãi tính đến ngày 12 – 3 – 2022 tiền lãi trong hạn 72.400.415 đồng; tiền lãi quá hạn 12.224.412 đồng và kể từ ngày 13 – 3 – 2022 buộc vợ chồng ông Ph, bà Oa phải tiếp tục chịu tiền lãi suất theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi vợ chồng ông Ph, bà Oa trả xong số tiền nợ gốc.

+ Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 107613A/HĐTC ngày 19 – 8 – 2013 và hợp đồng thế chấp tài sản số 107613/HĐTC ngày 19/8/2013 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của vợ chồng ông Ph, bà Oa.

2. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Phan Cảnh Ph không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, bà Lê Thị Kim Oa đã thực hiện một phần quyền và nghĩa vụ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án không nhận được văn bản thể hiện ý kiến cũng như yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 17 – 5 – 2022, bà Lê Thị Kim Oa trình bày: Bà xác nhận toàn bộ lời trình bày của Ngân hàng là đúng. Do hiện nay đang gặp khó khăn, làm ăn thua lỗ nên chưa thanh toán nợ cho Ngân hàng. Trước việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông bà phải trả số tiền nợ gốc là 229.995.369 đồng, tiền lãi tính đến ngày 12 – 3 – 2022 (trong đó, tiền lãi trong hạn 72.400.415 đồng; tiền lãi quá hạn 12.224.412 đồng). Bà đồng ý trả khoản nợ trên cho Ngân hàng và đồng ý duy trì hợp đồng thế chấp tài sản.

3. Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

-Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

-Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, bị đơn bà Oa thực hiện một phần quyền và nghĩa vụ, còn ông Phai không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

-Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, tuyên xử buộc vợ chồng ông Phan Cảnh Ph, bà Lê Thị Kim Oa phải hoàn trả số tiền gốc, tiền lãi theo là 314.620.223 đồng, (trong đó nợ gốc 299.995.396 đồng; tiền lãi trong hạn 72.400.415 đồng; tiền lãi quá hạn 12.224.412 đồng và kể từ ngày 13 – 3 – 2022 buộc vợ chồng ông Ph, bà Oa phải tiếp tục chịu tiền lãi suất theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản; Về án phí giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về thủ tục tố tụng: Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam thụ lý, giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

1.1 . Về thủ tục tố tụng: Ông Phan Cảnh Ph, bà Lê Thị Kim Oa đã được Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt.

2. Xét yêu cầu khởi kiện của Agribank đối với vợ chồng ông Phan Cảnh Ph, bà Lê Thị Kim Oa thấy:

2.1. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định được: Ngày 31 – 01 – 2018, Agribank và ông Ph đã ký hợp đồng tín dụng số 159672283/HĐTD và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 107613A/HĐTC ngày 19 – 8 – 2013 và hợp đồng thế chấp tài sản số 107613/HĐTC ngày 19/8/2013. Hợp đồng được ký kết trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện của các bên, không bị lừa dối, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Nội dung, hình thức của hợp được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Như vậy, các hợp đồng này là hợp pháp.

2.2. Có đủ căn cứ xác định được các hợp đồng tín dụng số 159672283 /HĐTD ngày 31 – 01 – 2018 ông Ph, bà Oa đã vay của Agribank số tiền 230.000.000 đồng với lãi suất theo thỏa thuận là 10%/năm là có căn cứ (được thể hiện tại Điều 7 của hợp đồng tín dụng).

Từ sự phân tích trên, có đủ căn cứ để Tòa án xác định tính đến ngày 12 – 3 – 2022 vợ chồng ông Ph, bà Oa còn thiếu nợ của Agribank số tiền gốc là 299.995.396 đồng (Bằng chữ: Hai trăm chín mươi chín triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn, ba trăm chín mươi sáu đồng), tiền lãi trong hạn 72.400.415 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi hai triệu, bốn trăm nghìn, bốn trăm mười lăm đồng); tiền lãi quá hạn 12.224.412 đồng (Bằng chữ: Mười hai triệu, hai trăm hai mươi bốn nghìn, bốn trăm mười hai đồng) như đơn khởi kiện của Ngân hàng Agribank là có căn cứ chấp nhận.

2.3. Tại Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm. Theo nội dung tại án lệ quy định: "Trường hợp này, khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng, tổ chức tín dụng khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán, tiền lãi trên nợ gốc trong hạn (nếu có), lãi nợ quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay". Như vậy, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Agribank, kể từ ngày 13 – 3 – 2022 buộc ông Ph, bà Oa tiếp tục phải chịu tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi ông Ph, bà Oa thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ gốc cho Agribank.

2.4. Tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 107613A/HĐTC ngày 19 – 8 – 2013 và hợp đồng thế chấp tài sản số 107613/HĐTC ngày 19/8/2013 có đủ căn cứ xác định được để đảm bảo khoản vay nợ số tiền 230.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 159672283/HĐTD vợ chồng ông Ph, bà Oa đã thế chấp cho Agribank Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM574972 do Ủy ban nhân dân huyện Thuận Nam cấp ngày 28/12/2012 và Giấy chứng nhận tàu cá số NT – 90615 – TS do Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 09/11/2010 cấp cho ông Ph, bà Oa. Ngân hàng Agribank yêu cầu được tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 107613A/HĐTC ngày 19 – 8 – 2013 và hợp đồng thế chấp tài sản số 107613/HĐTC ngày 19/8/2013 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của đương sự là có cơ sở chấp nhận bởi yêu cầu này phù hợp với nội dung thỏa thuận giữa các bên quy định của hợp đồng thế chấp đã ký kết.

Từ những sự phân tích trên, Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Agribank đối với ông Ph, bà Oa theo như đơn khởi kiện của Agribank. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam về quan điểm giải quyết vụ án.

Về án phí: Buộc vợ chồng ông Ph, bà Oa phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngân hàng Agribank không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 90, khoản 1 Điều 147, Điều 208, Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 323, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Án lệ số 08/2016/AL.

- Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đối với bị đơn ông Phan Cảnh Ph, bà Lê Thị Kim Oa về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản.

1. Buộc ông Phan Cảnh Ph, bà Lê Thị Kim Oa phải trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền nợ gốc là 299.995.396 đồng (Bằng chữ: Hai trăm chín mươi chín triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn, ba trăm chín mươi sáu đồng).

2. Buộc ông Phan Cảnh Ph, bà Lê Thị Kim Oa phải trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền lãi của số tiền nợ gốc tính đến ngày 12 – 3 – 2022 là tiền lãi trong hạn 72.400.415 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi hai triệu, bốn trăm nghìn, bốn trăm mười lăm đồng); tiền lãi quá hạn 12.224.412 đồng (Bằng chữ: Mười hai triệu, hai trăm hai mươi bốn nghìn, bốn trăm mười hai đồng).

3. Kể từ ngày 13 – 3 – 2022, buộc ông Phan Cảnh Ph, bà Lê Thị Kim Oa phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi ông Phan Cảnh Ph, bà Lê Thị Kim Oa thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ gốc.

4. Tiếp tục duy trì tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM574972 do Ủy ban nhân dân huyện Thuận Nam cấp ngày 28/12/2012 và Giấy chứng nhận tàu cá số NT – 90615 – TS do Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 09/11/2010 để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ.

5. Buộc vợ chồng ông Phan Cảnh Ph, bà Lê Thị Kim Oa phải chịu 15.731.000 đồng (Bằng chữ: Mười lăm triệu, bảy trăm ba mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền 7.865.000 đồng (Bằng chữ: Bảy triệu, tám trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng số 0001305 lập ngày 22 – 4 – 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận (Thông qua chuyển khoản).

7. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vợ chồng ông Phan Cảnh Ph, bà Lê Thị Kim Oa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ