- Tranh chấp gì? án hình sự — "MUA BÁN, TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN N DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2021/HS-ST. Ngày: 28-01-2021. |
N DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm N dân: 1. Ông Kiều Văn Cách
2. Ông Nguyễn Hoàng Liệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Điêu Khắc Khanh – Thư ký Tòa án N dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát N dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Minh Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án N dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Văn L - sinh ngày 28 tháng 10 năm 1995, tại Thốt Nốt – Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Hiệp (chết) và bà Nguyễn Thị Phương – sinh năm 1975; Tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2020 đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng:
1/. Nguyễn Hoàng A – sinh năm 1997. Địa chỉ: ấp D, xã E, huyện F, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
2/. Nguyễn Hồng N – sinh năm 2000. Địa chỉ: ấp G, xã H, huyện I, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua công tác nắm tình hình, vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 18 tháng 8 năm 2020, đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận Thốt Nốt kết hợp với Công an phường B, quận Thốt Nốt tiến hành khám xét người và chổ ở của Lê Văn L tại khu vực A, phường B, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, thu giữ các tang vật gồm: 02 gói nilon hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn không màu thu tại nền gạch phía hong nhà (chái nhà); 01 gói nilon hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn không màu được để trong hộp giấy hiệu Lifetech được thu tại nền gạch phía hong nhà (chái nhà); 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng; Tiền Việt Nam: 1.100.000 đồng.
Qua quá trình điều tra, Lê Văn L khai nhận 03 gói nilon hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn không màu công an khám xét thu giữ vào ngày 18/8/2020 là ma túy của L mua mục đích để sử dụng. Đồng thời, L còn thừa nhận nhiều lần mua ma túy của người tên Khang (không rõ họ tên) ở cầu Vạn Lịch thuộc xã Trung An, huyện Cờ Đỏ để sử dụng và bán lại cho Nguyễn Hoàng A, Phúc ở Nông trường sông Hậu, Khang ở cầu sắt Thơm Rơm được khoảng 01 tháng (thể hiện tại bút lục số 91 đến 97), cụ thể: Bán ma túy cho Nguyễn Hoàng A 02 lần: Lần thứ nhất cách ngày 18/8/2020 khoảng 6 – 7 ngày với giá 150.000 đồng, lần thứ hai cách ngày 18/8/2020 khoảng 03 ngày với giá 200.000 đồng; Bán cho Phúc 01 lần với giá 150.000 đồng; Bán cho Khanh 01 lần cách ngày bị bắt khoảng 10 ngày với giá 150.000 đồng.
Vào ngày 17/8/2020, L mua của Khang hai gói ma túy với giá 800.000 đồng mang về nhà cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ ngày 18/8/2020, sau khi L cùng với Nguyễn Hồng N sử dụng ma túy tại nhà của L xong thì bị lực lượng chức năng khám xét bắt giữ L cùng tang vật.
Tại Kết luận giám định số 337/KL-PC09 ngày 25/08/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, kết luận: Tinh thể không màu trong 02 gói nilon , gửi giám định là ma tú y
, khối lượng 1,6156 gam, loại Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 338/KL-PC09 ngày 25/08/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon , gửi giám định là ma tú y
khối lượng 0,0625 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSTN ngày 13 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát N dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).
Đối với Nguyễn Hồng N đã có hành vi sử dụng ma tuý cùng L, Công an phường B đã chuyển cho Công an xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ xử lý theo thẩm quyền.
Đối với Nguyễn Hoàng A có hành vi mua ma tuý của L để sử dụng , Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận Thốt Nốt ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Riêng người tên Phúc và Khanh đã có hành vi mua ma tuý của L và người tên Khang, Toàn Nũng có hành vi bán ma tuý cho L do L khai không biết rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa tiến hành làm việc được.
Tại phiên tòa:
Bị cáo L đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát N dân quận Thốt Nốt truy tố, đồng thời xác định số ma túy Công an thu giữ là bị cáo mua về để sử dụng và khi ai có nhu cầu mua thì bị cáo bán. Ngoài ra, bị cáo không ý kiến gì khác.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm; đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bị cáo Lê Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo L từ 08 đến 09 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý; từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp mức án đề nghị đối với bị cáo từ 09 năm 06 tháng đến 11 năm tù. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo L không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị miễn cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong số 337/KL-PC09 và số 338/KL-PC09 cùng ngày 25/8/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ; Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng bị cáo sử dụng liên lạc mua bán ma túy; Trả cho bị cáo số tiền 1.100.000 đồng do không liên quan đến việc phạm tội.
Bị cáo nói lời sau cùng: Nay bị cáo đã biết ăn năn, hối cải nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ v ụ án đã đượ c tranh tụng tại phiên tòa, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận Thốt Nốt, Điều tra viên, Viện kiểm sát N dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, có người làm chứng vắng mặt không lý do. Tuy nhiên, xét trong điều tra đã thu thập rõ lời khai của người vắng mặt, trường hợp cần thiết sẽ công bố lời khai tại toà. Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, việc vắng mặt của người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, các biên bản ghi lời khai, biên bản khám xét và kết luận giám định.
Như vậy, có cơ sở xác định trong thời gian được khoảng 01 tháng tính đến ngày bị bắt 18/8/2020, bị cáo Lê Văn L đã có hành vi bán ma tuý cho Nguyễn Hoàng A được 02 lần với số tiền bán từ 150.000đồng đến 200.000đồng. Đồng thời, vào ngày 18/8/2020 Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận Thốt Nốt tiến hành khám xét chỗ ở của L thu giữ 03 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể rắn không màu. Qua điều tra, L thừa nhận 03 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể rắn không màu Công an thu giữ là ma tuý của L mua để sử dụng và bán lại. Theo Kết luận giám định số 337/KL-PC09 và số 338/KL-PC09 ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: tinh thể không màu trong 03 gói nilon hàn kín gửi giám định được niêm phong có chữ ký ghi tên Lê Văn L là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng lần lượt là 1,6156 gam và 0,0625 gam, tổng khối lượng là 1,6781 gam. Như vậy, đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Ngoài ra, ma tuý còn là hiểm hoạ, là nguyên N gây ra sự suy thoái về đạo đức, lối sống; ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, sức khỏe, sự phát triển nòi giống của dân tộc và đời sống văn hóa lành mạnh của N dân; đồng thời cũng là nguyên N gây nên các tệ nạn xã hội khác.
Xét, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, có sức khoẻ nhưng không chịu khó phấn đấu lao động chân chính tạo thu nhập phát triển kinh tế để chăm lo cho gia đình, lại tiêm nhiểm thói hư tật xấu, sa đà vào nghiện ngập, mặc dù hoàn toàn nhận thức được tác hại của chất ma túy và biết rõ hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng chỉ vì để thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật mua bán trái phép chất ma tuý để thu L và tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Từ đó, cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm để đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật cũng như đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn nhất định và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Đối với Nguyễn Hồng N đã có hành vi sử dụng ma tuý cùng L, Công an phường B đã chuyển cho Công an xã H, huyện I xử lý theo thẩm quyền là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[10] Đối với Nguyễn Hoàng A có hành vi mua ma tuý của L để sử dụng, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận Thốt Nốt ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[11] Đối với người tên Phúc và Khanh đã có hành vi mua ma tuý của L và người tên Khang, Toàn, Nũng có hành vi bán ma tuý cho L do L khai không biết rõ họ tên, địa chỉ nên cần thiết kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định.
[12] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[13] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
* Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạ t: Bị cáo Lê Văn L 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành chung là 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18 tháng 8 năm 2020.
Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo L.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) gói niêm phong số 337/KL-PC09 và 01 (một) gói niêm phong số 338/KL-PC09 cùng ngày 25/8/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ bên trong có chứa thành phần Methamphetamine còn lại sau giám định.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng.
- Trả lại Lê Văn L số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm ngàn đồng) do không liên quan đến việc phạm tội.
Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ đối với người tên Phúc và Khanh đã có hành vi mua ma tuý của L và người tên Khang, Toàn Nũng có hành vi bán ma tuý cho L để xử lý theo quy định, tránh bỏ lọt tội phạm.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Văn L phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.
* Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND quận Thốt Nốt; - Công an quận Thốt Nốt; - Cơ quan THA quậnThốt Nốt; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Huỳnh Thị Mộng Tuyền |