- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lộc Văn Chợi - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên: Lộc Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2021/HS-ST Ngày 02/03/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
__________________
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị T
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị T và Bà Lò Thị Ly S .
Thư ký phiên toà: Bà: Lê Thị H , Thư ký - Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Phạm Viết Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 02/03/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2021/QĐXXST-HS ngày 16/02/2021 đối với bị cáo:
Lộc Văn C , sinh năm: 1986. Nơi cư trú: Bản Na Hin, xã Mường Chanh, Mường Lát, Thanh Hóa. Dân tộc: Thái; Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ học vấn: Trình độ học vấn: 9/12
Con ông: Lộc Văn K (Đã chết). Con bà: Lương Thị N , sinh năm 1965. Vợ: Vi Thị H , sinh năm 1987. Có 02 (hai) người con lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2014. Nơi ở: Bản Na Hin, xã Mường Chanh, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
Tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ ngày 11/8/2020, tạm giam ngày 17/8/2020 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc K - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý số 1, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 6 giờ ngày 09/8/2020, bị cáo đi bộ từ nhà sang (Lào) để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực giáp biên giới Việt - Lào thuộc địa phận bản Na Hin, xã Mường Chanh, Chợi có gặp và mua ma túy với một người đàn ông dân tộc Thái, không rõ tên, tuổi, địa chỉ 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa các viên Hồng phiến (ma túy tổng hợp) với số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Nhận số ma túy trên, bị cáo cầm về nhà và lấy một số viên Hồng phiến ra sử dụng , sau đó bỏ toàn bộ số số ma túy còn lại là 91 (chín một) viên Hồng phiến màu hồng và 02 (hai) viên Hồng phiến màu xanh trong 01(một) hộp nhựa hình tròn màu hồng giấu sau nhà. Đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 11/8/2020, bị cáo mang theo hộp nhựa đựng các số ma túy kể trên để trong túi quần bên phải đang mặc trên người và điều khiển xe máy biển kiểm soát 36K1-06370 đi xuống bản Cang, xã Mường Chanh, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa để sử dụng ma túy. Đến bản Cang, bị cáo gặp tổ công tác của Công an huyện Mường Lát yêu cầu dừng xe để kiểm tra, do lo sợ quá bị cáo lấy toàn bộ số ma túy đang để trong túi quần bên phải thả xuống đất. Phát hiện sự việc, tổ công tác tuyên bố bắt người phạm tội quả tang đối với Chợi và thu giữ toàn bộ số tang vật là ma túy ở trên.
Tại bản kết luận giám định số 2200/PC09 ngày 14/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận vật chứng thu giữ của Lộc Văn Chợi như sau:
- 91 (chín một) viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có dập chìm chữ “WY” của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 9,098g (chín phẩy không chín tám gam) loại: Methamphetamine.
- 02 (hai) viên nén hình trụ tròn màu xanh, trên bề mặt mỗi viên có dập chìm chữ “YI” và mặt còn lại dập chữ “A” của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,196g (không phẩy một chín sáu gam) loại: Methamphetamine.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 05/CT-VKS-ML ngày 15/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tranh luận và luận tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải và công nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên: Bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về điều luật: Áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1 điều 51; Điểm g khoản 2 điều 249 của BLHS.
Xử phạt bị cáo, hình phạt chính: Từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày tạm giữ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, vì bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập thấp và không ổn định, là người nghiện chất ma túy, nên không có tính thực thi.
Về vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình và khai nhận, biết rõ hành vi tàng trữ chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật và bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện chất ma túy, không kìm chế được bản thân nên mua ma túy về sử dụng. Bị cáo công nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.
Ý kiến người bào chữa: Tại phiên tòa, người bào chữa đồng tình với quan điểm truy tố của VKS về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ TNHS cho bị cáo. Cho rằng, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống bằng nghề trồng trọt tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội, bản thân trở thành công dân có ích.
Bị cáo nhận tội, đồng tình với lời bào chữa, không thay đổi, bổ sung thêm gì làm thay đổi nội dung vụ án, không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý là người bào chữa cho bị cáo và bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Chứng cứ xác định có tội, không có tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và chứng cứ khác trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo tàng trữ lượng ma túy là: 9,294g (chín phẩy hai chín bốn gam) Methamphetamine để sử dụng là nguy hiểm cho bản thân và xã hội, vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà Nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.
Với hành vi, tính chất vụ án, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo; Trọng lượng ma túy bị cáo tàng trữ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 điều 249 BLHS, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS. Tại các cơ quan tố tụng cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.
Xét về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Thấy rằng, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về mức hình phạt cho bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội và khối lượng chất ma túy thu giữ, đã đủ sức răn đe, phòng ngừa chung.
Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 điều 249 BLHS. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập thấp và không ổn định. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Xét về vật chứng trong vụ án:
- Số ma túy tang vật vụ án thu giữ của bị cáo còn lại sau khi giám định là chất Nhà nước Việt nam cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- Chiếc xe máy hãng Honda, loại xe Wave RSX, biển kiểm soát 36K1-06370 màu đen, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường lát đã trả chiếc xe nói trên cho bà Vi Thị Hợp, sinh năm 1987 trú tại bản Na Hin, xã Mường Chanh, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa là vợ của bị cáo
Xét về phần án phí và quyền kháng cáo: Xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí HSST cho bị cáo; bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các nhận định khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo là người đàn ông dân tộc Thái, không rõ tên, tuổi, địa chỉ, việc trao đổi, mua bán ma túy giữa hai người không có ai nhìn thấy. Vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát không đủ điều kiện để tiến hành xác minh làm rõ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Về tội danh: Tuyên: Lộc Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Về điều luật: Áp dụng: Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm g khoản 2 điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xử bị cáo 06 (Sáu) năm tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày tạm giữ (11/8/2020).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về tang vật: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đăng, Lê Minh Tiến, Phạm Đình Giang và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đóng giáp lai.
Vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại kho tang vật Chi cục THADS huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa, theo Quyết định chuyển vật chứng số 05/QĐ-VKS-ML, ngày 17/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát và Biên bản giao nhận vật chứng số 19//2021TV-CCTHADS ngày 18/12/2020 giữa Công an huyện Mường Lát và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát.
Về án phí: Áp dụng điều 135, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên: Miễn tiền án phí HSST cho bị cáo .
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ điều 331, điều 333 và điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai có mặt bị cáo, người bào chữa cho bị cáo; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THAHS TAND T. T.Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - VKS nhân dân H.Mường Lát; - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa; - Công an H. Mường Lát; - Cơ quan THAHS-CA Mường Lát; - Trại TG-CA tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS huyện Mường Lát; - UBND xã Mường Chanh, H. Mường Lát; - Bị cáo; - Người bào chữa cho bị cáo; - Hồ sơ Thi hành án Hình sự; - Lưu Hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Ngô Thị T |