- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hình sự sơ thẩm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Tuyết L (tên gọi khác là L1) phạm tội “Đánh bạc”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NH TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07 /2021/HS-ST Ngày 30-3-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NH, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đức Khánh
- Bà Nguyễn Thị Nga
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện NH.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NH tham gia phiên tòa: Ông Võ Duy Khải – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện NH xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2021/TLST-HS, ngày 06-01-2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2021/QĐXXST-HS, ngày 19-02-2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2021/QĐST-HS ngày 05/ 03/2021, đối với bị cáo:
Phạm Thị Tuyết L, tên gọi khác: L1, sinh ngày: 08/11/1979; nơi sinh: Huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố PB, thị trấn CC, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ văn hóa (học vấn): 09/ 12: dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hoàng N (sinh năm: 1951) và bà Nguyễn Thị B (sinh năm: 1954); Chồng: Võ T (sinh năm 1972); Bị can có 04 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày 13/01/2020 có hành vi đánh bạc trái phép tại thôn S, xã HP, huyện NH. Ngày 18/01/2020, bị công an xã HP xử phạt vi phạm hành chính dưới hình thức phạt tiền. Ngày 21/01/2020, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/10/2020 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
*Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị Hà Châu – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Ngãi.
Bà Châu có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Cao Thị T1, sinh năm 1967
Trú tại: Thôn XV, xã HD, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi.
- Ông Nguyễn Đoàn Thanh NG, sinh năm 1992
Trú tại: Tổ dân phố PB, thị trấn CC, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi
- Ông Trần Quốc D, sinh năm 1977
Trú tại: Tổ dân phố PB, thị trấn CC, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi
- Ông Lê Văn M, sinh năm 1975
Trú tại: Thôn AD, xã K, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi
* Ngƣời làm chứng
Ông Nguyễn Tấn T2, sinh năm 1964
Trú tại: Tổ dân phố BT, thị trấn CC, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi
Bà T1, ông Nghị, ông D, ông M và ông T2 vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2020, bị cáo Phạm Thị Tuyết L cùng bà Cao Thị T1 đi đến khu vực núi đá thuộc tổ dân phố BT, thị trấn CC để tìm và thu tiền nợ những người nợ L. Khi đến nơi L thấy có nhiều người đang tập trung đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa ăn thua bằng tiền, nhưng không thấy người nợ tiền của L có mặt tại đây. Lúc này, L nảy sinh ý định đánh bạc, nhưng vì không mang theo tiền nên L điện thoại nhờ ông Nguyễn Tấn T2 đến nhà bà Nguyễn Thị T3 (trú tại tổ dân phố BT, thị trấn CC, huyện NH) lấy số tiền 3.000.000đ T3 trả nợ rồi mang đến cho L. Khi ông T2 mang số tiền 3.000.000đ đến thì L lấy số tiền 1.000.000đ đưa cho ông Trần Quốc D vay để mua sữa cho con, còn lại số tiền 2.000.000đ L sử dụng vào mục đích đánh bạc. Những người tham gia đánh bạc cùng với Phạm Thị Tuyết L gồm có: Cao Thị T1, Trần Quốc D, Lê Văn M, Nguyễn Đoàn Thanh NG. Đến 17 giờ 10 phút cùng ngày 25/6/2020, tổ công tác Công an thị trấn CC phát hiện L cùng đồng đọn đánh bạc nên đã lập biên bản và tạm giữ những đồ vật mà các đối tượng dùng để đánh bạc.
Hình thức đánh bạc của Phạm Thị Tuyết L và các đối tượng thực hiện vào ngày 25/6/2020 là hình thức xóc đĩa, như sau: NG là người cầm cái xóc đĩa, NG đặt 4 đồng vị (làm từ lá bài Tây được cắt thành hình tròn) lên đĩa, dùng chén úp lại, sau đó xóc nhiều lần rồi đặt xuống chiếu bạc. Những người chơi đánh bạc lựa chọn đặt tiền vào một trong 2 cửa “chẵn” hoặc “lẻ” (03 đồng vị cùng màu là lẻ; 02 hoặc 04 đồng vị cùng màu là chẵn). Số tiền đặt cược là không giới hạn, mỗi ván từ 20.000đ đến 100.000đ, tỷ lệ thắng thua là 1:1. Sau khi đặt cược xong thì NG là người mở chén ra, nếu kết quả là “chẵn” thì người chơi đặt cược “chẵn” thắng và NG chung số tiền tương ứng vào số tiền của người thắng, người đặt lẻ thua số tiền đã đặt cược và ngược lại.
Cơ quan điều tra phát hiện và làm việc thì các đối tượng xác định:
Khi bị Công an thị trấn CC phát hiện trên người NG không có tiền, trong số tiền 2.830.000đ thu giữ trên chiếu bạc có số tiền 600.000đ của NG khi bỏ chạy để lại trên chiếu bạc;
Phạm Thị Tuyết L tham gia đánh bạc 02 ván, mỗi ván 50.000đ, đều thua đánh bạc. Khi Công an thị trấn CC phát hiện thì trên người L không có tiền, trong số tiền 2.830.000đ thu giữ trên chiếu bạc có số tiền 1.900.000đ của L khi bỏ chạy để lại trên chiếu bạc;
Trần Quốc D tham gia đánh bạc 02 ván, mỗi ván 20.000đ, ván thứ 1 thua, ván thứ 2 chưa xác định thắng thua thì bị Công an thị trấn CC phát hiện và thu giữ trên người D số tiền 1.180.000đ, trong đó D sử dụng 230.000đ để đánh bạc; còn số tiền 950.000đ, D sử dụng vào mục đích cá nhân;
Cao Thị T1 tham gia đánh bạc 02 ván, mỗi ván 50.000đ, đều thua đánh bạc. Công an thị trấn CC thu giữ trên người T1 số tiền 2.500.000đ, số tiền này T1 không sử dụng vào mục đích đánh bạc mà sử dụng vào mục đích cá nhân;
Lê Văn M tham gia đánh bạc 02 ván, mỗi ván 100.000đ, cả hai ván đều thua. Tại thời điểm bị phát hiện thì trên người M không có tiền.
Như vậy, tổng số tiền các đối tượng Nguyễn Đoàn Thanh NG, Phạm Thị Tuyết L, Trần Quốc D, Cao Thị T1, Lê Văn M dùng để đánh bạc vào ngày 25/6/2020 là 3.060.000đ (Ba triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng).
Qua xác minh, Công an huyện NH xác định trong các đối tượng tham gia đánh bạc có đối tượng Phạm Thị Tuyết L mặc dù số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đ nhưng trước đó L đã có hành vi đánh bạc trái phép vào ngày 13/01/2020 tại thôn S, xã HP, huyện NH, ngày 18/01/2020, bị Công an xã HP xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc dưới hình thức phạt tiền, số tiền phạt 1.500.000đ, L đã chấp hành xong vào ngày 21/01/2020. Vì vậy, hành vi đánh bạc của L vào ngày 25/6/2020 thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm nên L đã phạm tội đánh bạc theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Vật chứng: Tại hiện trường vụ đánh bạc vào ngày 25/6/2020 của Phạm Thị Tuyết L và các đối tượng nêu trên, Công an thị trấn CC đã lập biên bản thu giữ: 04 bìa giấy nhỏ hình tròn đường kính 2,3cm (thường gọi là đồng vị, làm từ các lá bài Tây); 01 chén sứ miệng chén có đường kính 12cm, đế chén có đường kính 05cm, mặt ngoài có hoa văn; 01 đĩa sứ màu trắng miệng đĩa có đường kính 18cm, đế đĩa có đường kính 11cm, mặt trong đĩa có hoa văn; 01 kéo bằng kim loại, dài 22cm, rộng nhất 10,5cm, một bên tay cầm kéo được bọc nhựa dẻo màu đỏ, bên còn lại được bọc nhựa dẻo màu vàng, đã qua sử dụng; Số tiền thu giữ trực tiếp trên sòng bạc là 2.830.000đ ; Số tiền tạm giữ trên người các đối tượng là 3.843.000đ; 06 xe mô tô, tình trạng đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra và lời khai của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở để xác định bị cáo Phạm Thị Tuyết L đã phạm tội “Đánh bạc”.
Cáo trạng số 04/CT-VKS-NH, ngày 05/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định truy tố bị cáo Phạm Thị Tuyết L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 01 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Phạm Thị Tuyết L phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, Điều 47, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thị Tuyết L từ 25 triệu đồng đến 35 triệu đồng.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với số tiền 2.830.000đồng; Tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng: 04 bìa giấy nhỏ hình tròn đường kính 2,3cm (thường gọi là đồng vị, làm từ các lá bài Tây); 01 chén sứ miệng chén có đường kính 12cm, đế chén có đường kính 05cm, mặt ngoài có hoa văn; 01 đĩa sứ màu trắng miệng đĩa có đường kính 18cm, đế đĩa có đường kính 11cm, mặt trong đĩa có hoa văn; 01 kéo bằng kim loại, dài 22cm, rộng nhất 10,5cm, một bên tay cầm kéo được bọc nhựa dẻo màu đỏ, bên còn lại được bọc nhựa dẻo màu vàng, đã qua sử dụng.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo:
Về hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Thị Tuyết L vì điều kiện bị cáo L có 04 người con còn nhỏ, đi học và trong đó có một người con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, bị cáo thuộc hộ cận nghèo do thị trấn CC, huyện NH quản lý.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị Tuyết L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự; kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng gì của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, trình tự, thủ tục tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị Tuyết L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung vụ án. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phạm Thị Tuyết L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức việc làm của mình, nhưng bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc, xâm phạm trật tự quản lý xã hội của nhà nước, ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa, chơi trực tiếp với người cầm cái, hơn thua bằng tiền mặt, số tiền bị cáo tham gia đánh bạc dưới 5.000.000đồng nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NH truy tố bị cáo Phạm Thị Tuyết L về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ Luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Phạm Thị Tuyết L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Phạm Thị Tuyết L đã thành khẩn khai báo, nên đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Bị cáo là thành viên của hộ cận nghèo do Ủy ban nhân dân thị trấn CC quản lý, bên cạnh đó bị cáo đang nuôi con nhỏ 19 tháng tuổi, nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét về vấn đề này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần xét xử bị cáo Phạm Thị Tuyết L với hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự là đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo.
Đối với bà Cao Thị T1, ông Nguyễn Đoàn Thanh NG, ông Trần Quốc D, ông Lê Văn M có số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000đ, nhưng trước đó chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này nên không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng này là đúng quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
- Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NH ra Quyết định giao trả số tiền 3.613.000đồng và 04 xe mô tô cho chủ sở hữu là phù hợp, đúng pháp luật; Còn 02 xe mô tô chưa xác định được chủ sở hữu nên Công an thị trấn CC tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với vật chứng là: 04 bìa giấy nhỏ hình tròn đường kính 2,3cm (thường gọi là đồng vị, làm từ các lá bài Tây); 01 chén sứ miệng chén có đường kính 12cm, đế chén có đường kính 05cm, mặt ngoài có hoa văn; 01 đĩa sứ màu trắng miệng đĩa có đường kính 18cm, đế đĩa có đường kính 11cm, mặt trong đĩa có hoa văn; 01 kéo bằng kim loại, dài 22cm, rộng nhất 10,5cm, một bên (tay cầm kéo) được bọc nhựa dẻo màu đỏ, bên còn lại được bọc nhựa dẻo màu vàng, đã qua sử dụng. Đây là công cụ phục vụ việc đánh bạc nhưng có giá trị thấp nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 2.830.000đ thu giữ trên chiếu bạc đây là số tiền dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 230.000đồng thu giữ trên người của đối tượng Trần Quốc D, đối tượng Trần Quốc D khai nhận số tiền này dùng để đánh bạc, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, Công an thị trấn CC đã tịch thu và nộp vào Ngân sách nhà nước, thể hiện ở Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 61/QĐ-XPHC ngày 24/7/2020 và các tài liệu kèm theo tại bút lục số 241, 242, 244,245 và 246 của hồ sơ vụ án.
Về án phí: bị cáo Phạm Thị Tuyết L là thành viên của hộ cận nghèo, thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NH về hình phạt, dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, Điều 35, Điều 47 và điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Tuyết L (tên gọi khác là L1) phạm tội “Đánh bạc”;
2. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Tuyết L (tên gọi khác là L1) 20.000.000đồng ( Hai mươi triệu đồng).
3. Về xử lý vật chứng:
3.1 Tịch thu tiêu hủy:
-04 bìa giấy nhỏ hình tròn đường kính 2,3cm (thường gọi là đồng vị, làm từ các lá bài Tây);
-01 chén sứ miệng chén có đường kính 12cm, đế chén có đường kính 05cm, mặt ngoài có hoa văn;
- 01 đĩa sứ màu trắng miệng đĩa có đường kính 18cm, đế đĩa có đường kính 11cm, mặt trong đĩa có hoa văn;
- 01 kéo bằng kim loại, dài 22cm, rộng nhất 10,5cm, một bên (tay cầm kéo) được bọc nhựa dẻo màu đỏ, bên còn lại được bọc nhựa dẻo màu vàng, đã qua sử dụng.
Các vật chứng này được phản ánh tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NH và Chi cục Thi hành án dân sự huyện NH.
3.2 Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền 2.830.000đồng ( Hai triệu tám trăm ba mươi ngàn đồng), số tiền này được phản ánh tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NH và Chi cục Thi hành án dân sự huyện NH.
4. Về án phí: Bị cáo Phạm Thị Tuyết L (tên gọi khác là L1) được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện NH; - Cơ quan THAHS CA huyện NH; - Cơ quan CSĐT CA huyện NH; - Chi cục THADS huyện NH; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thanh Bình |