- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mã Đức T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2021/HS - ST Ngày 12/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Mẫn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vy Phát Tước
Nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu
2. Ông Triệu Văn Thiết
Nghề nghiệp: Giáo viên
Nơi công tác: Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Khuyến – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 06/2021/TLST - HS ngày 05/02/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXXST- HS ngày 26/02/2021 đối với bị cáo:
Mã Đức T; sinh năm 1987; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộ c: Tày; tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mã Văn T và bà Triệu Thị C; vợ: Tạ Thị L; con: 01 con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/12/2020, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng C; sinh năm 1978; trú tại tổ 14B, thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (đã chết).
2. Cháu Giá Thanh H; sinh năm 2011; trú tại tổ 14B, thị trấn B, huyện Chợ Đ, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
* Người đại diện hợp pháp cho bị hại Chị Nguyễn Thị Hồng C và cháu Giá Thanh H: ông Giá Hoàng T, sinh năm 1976, nơi cư trú: 14B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1963; nơi cư trú: Tổ 4, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn;
2. Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1958; nơi cư trú: Tổ 13, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn;
3. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; nơi cư trú: Tổ 14B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn;
4. Ông Lê Quang H, sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ 4, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn;
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a , nộ i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 05 phút ngày 02/10/2020, Mã Đức T (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 16L - 6928 thuộc sở hữu của mình chở theo 01 chiếc máy đào bánh xích nhãn hiệu VOLVO phía sau thùng xe theo đường nội thị từ hướng tổ 16, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đi xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Đến khoảng 06 giờ 10 phút cùng ngày khi đi đến gần khu vực ngã tư (Ngã tư đèn xanh đèn đỏ) thuộc tổ 4, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì T phát hiện phía trước có 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B1- 696.70 do chị Nguyễn Thị Hồng C (Có giấy phép lái xe A1) điều khiển chở theo cháu Giá Thanh H (Con gái chị C) đi sát phần đường bên phải theo chiều đi của T, lúc này T quan sát đèn tín hiệu giao thông đang là đèn xanh theo chiều đi của T và là khu vực được phép rẽ phải theo biển báo. Khi đến khu vực ngã tư do có ý định điều khiển xe đi thẳng theo hướng đi xã P nên T điều khiển xe vượt qua xe chị C rồi đột ngột thay đổi ý định không đi thẳng mà rẽ phải theo chiều đi của mình nên T đã điều khiển xe rẽ phải đột ngột và không có tín hiệu đèn xi nhan xin rẽ phải dẫn đến làm phần khung thùng xe ô tô phía trước bên phải va vào bên trái xe mô tô của chị C đang điều khiển đi bên phải, làm cho xe chị C đổ ngã xuống mặt đường và phần bánh sau bên phải xe ô tô cán vào người chị C làm chị C tử vong tại chỗ, cháu H bị thương nhẹ và xe mô tô bị hư hỏng nhẹ. Sau khi xảy ra tai nạn T điều khiển xe rẽ phải rồi dừng lại sát lề đường và xuống xe kiểm tra người bị nạn thì phát hiện chị C tử vong, cháu H bị thương nên T gọi mọi người gần đó đưa cháu H lên trung tâm y tế, còn T lên Công an huyện C trình báo sự việc.
Tại phiếu đo nồng độ cồn do Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn lập đối với Mã Đức T thời điểm 06 giờ 22 phút ngày 02/10/2020 xác định được nồng độ cồn trong hơi thở của T là 0,000mg/L.
Cơ quan chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện gây tai nạn, tiến hành trưng cầu giám định nguyên nhân chết, định giá tài sản. Kết quả như sau:
* Khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường vụ tai nạn xảy ra tại ngã tư đường nội thị giao nhau thuộc Tổ 4, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, che khuất và có lắp đặt cột đèn tín hiệu giao thông. Đường được rải bê tông áp phan bằng phẳng. Phần lòng đường theo hướng từ trường trung học phổ thông (Tổ 16) huyện C đến ngã tư nêu trên rộng 9,10m, lề đường trái rộng 0,28m, tiếp đến là vỉa hè rộng 3,55m, lề đường bên phải rộng 0,25m, tiếp đến là vỉa hè rộng 3,70m, trên vỉa hè đường phải có cột đèn giao thông và gắn biển báo “ĐÈN ĐỎ ĐƯỢC PHÉP RẼ PHẢI”. Trên mặt đường tại vị trí gần cột đèn giao thông có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ sang đường, giữa lòng đường có các vạch kẻ màu vàng đứt quãng, hình cánh cung để xác định phần đường di chuyển của các phương tiện khi đi qua ngã tư, từ mép đường bên phải đến mép trong vạch kẻ màu vàng là 05m. Lòng đường theo hướng từ chợ B đi đến ngã tư nêu trên rộng 13,10m, giữa lòng đường có các vạch kẻ màu vàng đứt quãng, hình cánh cung để xác định phần đường di chuyển của các phương tiện khi đi qua ngã tư, từ mép đường bên phải đến mép trong vạch kẻ màu vàng là 6,48m.
Quá trình khám nghiệm lấy cột điện B 10 02A làm mốc chuẩn, lấy mép phải theo hướng từ trong vạch kẻ lề đường bên phải theo hướng trường trung học phổ thông (Tổ 16) huyện C đi chợ B làm mép chuẩn. Trên hiện trường phát hiện một số dấu vết được đánh số cụ thể như sau:
- Vị trí số 01 là vị trí phát hiện 01 vết cày dài 0,16m, rộng 0,025m, sâu 0,001m theo hướng từ tây sang đông, hướng về phía lề đường phải, đầu về cày cách mốc chuẩn 1,94m, cách mép chuẩn 1,02m. Lòng đường tại vị trí số 01 rộng 11,40m, điểm đầu vị trí số 01 cách mép trong vạch kẻ màu vàng 04,03m (Xác định đây là điểm va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 16L - 6928 với xe mô tô biển kiểm soát 97B1-696.70 thời điểm xảy ra tai nạn).
- Vị trí số 02 là vị trí phát hiện 03 vết cày đứt quãng và 01 mảnh nhựa vỡ màu trắng sữa. Đo từ điểm cuối vị trí số 01 đến đầu vết cày thứ nhất là về hướng đông là 0,46m: Vết cày thứ nhất dài 0,18m, chỗ rỗng nhất 0,01m, điểm đầu vết cách mép chuẩn 0,82. Từ điểm cuối vết cày thứ nhất hướng về phía đông 0,05m là điểm đầu vết cày thứ hai, vết cày thứ hai dài 0,19m, chỗ rộng nhất 0,01m. Từ điểm cuối vết cày thứ hai hướng về phía lề đường phải 0,10m là điểm đầu vết cày thứ ba, vết cày thứ ba dài 0,14m, chỗ rộng nhất 0,01m, điểm cuối vết cày thừ ba cách mép chuẩn 0,46m.
- Vị trí số 03 là vị trí phát hiện các mảnh nhựa vỡ có hình dáng, kích thước khác nhau nằm rải rác trên mặt đường trong diện 1,30m x 2,05m. Tâm vị trí số 03 đến mép chuẩn 0,60m.
- Vị trí số 04 là vị trí phát hiện vết mài màu trắng, cách tâm vị trí số 3 về phía đông bắc 0,70m, vết mài dài 0,80m, rộng 0,14m. Điểm đầu vết mài cách mép chuẩn 1,23m, điểm cuối cách mép chuẩn 1,12m.
- Vị trí số 05 là vị trí các đồ dùng và 01 vết cày màu trắng, vị trí số 05 nằm trong diện 0,90m x 01m, cách điểm cuối vị trí số 4 hướng về phía lề đường phải 0,84m, vết cày tại vị trí số 5 hình vòng cung, dài 0,35m, chỗ rộng nhất 0,01m, điểm đầu vết cày cách mép chuẩn 0,47m, điểm cuối cách mép chuẩn 0,19m.
- Vị trí số 06 là vị trí nạn nhân Nguyễn Thị Hồng C nằm mặp úp xuống mặt đường. Từ tâm vị trí số 5 đến chân phải nạn nhân là 0,70m, tâm vị trí 6 cách mép chuẩn 04,20m. Tại vị trí đầu nạn nhân có nhiều mạnh nhựa màu hồng, đám chất dịch màu đỏ, trắng nằm trong diện 0,56m x 0,86m.
- Vị trí số 07 là vị trí xe mô tô biển kiểm soát 97B1-696.70 đổ nghiêng bên phải, phần đầu xe quay hướng về phía lề đường phải và nằm trên lề đường phải. Đo trục bánh xe phía sau bên trái đến tâm vị trí 6 là 0,60m và đến mốc chuẩn là 4,57m, đến mép chuẩn là 0,74m, từ trục bánh xe phía trước bên trái đến mốc chuẩn là 4,94m.
- Vị trí số 08 là vị trí phát hiện vết mài màu đen, điểm đầu cách mép chuẩn 1,96m, từ tâm vị trí số 8 đến trục bánh xe phía sau bên trái vị trí số 7 là 1,40m, vị trí số 8 nằm trong diện 0,53m x 0,19m đám tạp chất trong diện 0,3m x 0,16m, tâm vị trí 03 cách mép chuẩn là 1,3m, cách mốc chuẩn là 9,94m.
- Vị trí số 09 là vị trí xe ô tô biển kiểm soát 16L-6928. Đo từ trục bánh xe phía sau bên phụ đến tâm vị trí số 8 là 16,62m, đến mép chuẩn là 0,95m, đến mốc chuẩn là 20,10m, đến điểm đầu vị trí số 01 là 20,30m, đến trục sau bánh xe phía sau bên trái xe mô tô vị trí số 7 là 17,30m, đến tâm vị trí số 6 là 17,70m, đo từ mặt ngoài ốp la giăng bánh xe phía trước bên phụ đến mép chuẩn là 0,54m. Trên mặt ngoài lốp bánh xe phía sau bên phải xe ô tô tại vị trí số 09, cách tâm trục bánh xe phía sau bên phụ 0,50m, cách mặt đường 0,20m, cách ký hiệu ASUMINA trên mặt ngoài lốp 0,24m là vị trí phát hiện dấu vết lông tóc và đám chất dịch màu đỏ bám dính trên diện 0,20m x 0,18m. BL: 27-53, 112-113
* Khám nghiệm tử thi: Nạn nhân Nguyễn Thị Hồng C có các dấu vết, tổn thương cơ thể như sau: Vùng đầu vỡ toác hộp sọ, vùng mặt biến dạng hoàn toàn, bầm dập; Vùng ngực có nhiều vết bầm tím, trượt xước mất da trên diện 28cm x 10cm, sờ nắn gãy dập xương sườn, xương ức; Vùng sườn ngực phải bầm tím, trượt xước da nông trên diện 25cm x 20cm; Toàn bộ mặt sau cánh tay phải trượt xước mất da nông, mặt sau ngoài vùng khuỷu đầu trên cẳng tay phải trượt xước mất da nông, rách toác mất da nham nhở, kích thước 08,5cm x 04cm; Cẳng tay trái gập góc biến dạng, sờ nắn thấy lạo xạo, gãy kín 1/3 giữa 2 xương cẳng tay trái; Mất toàn bộ vạt dạ mặt trước trong đùi trái, kích thước 36cm x 16cm. Mổ tử thi (Mổ bộc lộ kiểm tra qua vết thương): Vỡ toác xương sọ, kiểm tra thấy mất tổ chức não.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 40/TT ngày 06/10/2020 của Trung tâm Pháp y Sở y tế Bắc Kạn kết luận: “Dấu hiệu chính qua giám định: Vỡ toác xương sọ, mất tổ chức não. Nguyên nhân chết: Nguyễn Thị Hồng C chết ngay do mất não ”.
*Khám phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 16L-6928 có các dấu vết sau: Tại khung thùng xe phía trước bên phải phát hiện 01 vết mài màu đen, chiều hướng từ trong ra ngoài, kích thước trong diện 0,03m x 0,04m, tâm vết mài cách mặt nền bê tông 1,02m cách tâm trục bánh xe phía sau bên phụ 2,15m, cách khung thùng xe phía trên 0,09m, cách khung thùng xe phía dưới 0,17m; Tại vị trí mặt ngoài giá đỡ bình hơi phía sau bên phải xe phát hiện 01 vết mài bám dính màu trắng, chiều hướng từ trước về sau kích thước 0,01m x 0,015m, vị trí thấp nhất cách mặt nền bê tông 0,65m, vị trí cao nhất cách mặt nền bê tông 0,67m, tâm vết cách trục bánh xe phía sau bên phụ 1,16m; Trên mặt ngoài lốp bánh xe phía sau bên phụ phát hiện dấu vết lông tóc và đám chất dịch màu đỏ bám dính vào lốp xe kích thước trong diện 0,20m x 0,18m; Tại khung thùng xe phía sau bên phải phát hiện 01 vết mài màu đen, chiều hướng từ trước về sau kích thước 0,03m x 0,06m, tâm vết mài cách mặt nền 0,98m, cách tâm trục bánh xe phía sau bên phụ 1,20m.
Trên thùng xe đặt 01 máy đào bánh xích nhãn hiệu VOLVO, đo từ đỉnh buồng lái máy đào đến mặt thùng xe ô tô là 2,54m, đến mặt nền là 3,58m; Đo từ thành thùng xe phía sau đến cần của gầu máy đào (Phần vượt ra khỏi thùng xe ô tô) là 2,20m; đo từ phần bánh xích phía sau bên trái cách mép trong thùng xe phía sau bên trái là 0,10m, phía trước là 0,09m; Đo từ phần bánh xích phía sau bên phải đến mép trong thùng xe phía sau bên phải là 0,16m, đến phía trước là 0,19m. Phần thùng xe hai bên và phía sau đã bị tháo hết.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định kỹ thuật xe ô tô biển kiểm soát 16L-6928. Tại biên bản giám định kỹ thuật ngày 29/10/2020 của Hội đồng kỹ thuật Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Kạn xác định và kết luận: Hệ thống phanh còn hiệu quả; Hệ thống lái đảm bảo; Hệ thống điện, đèn còi: Đèn xi nhan phía trước bên phụ không sáng; Đèn pha, cốt, xi nhan còn lại, đèn phanh, đèn lùi đầy đủ, sáng đúng quy định, còi điện kêu rõ tiếng; Các hệ thống khác: Không còn thùng xe, đã tháo hết phần phía trên; chiều dài xe không đúng theo sổ chứng nhận kiểm định (Thực tế: 6070mm, theo sổ chứng nhận kiểm định: 5620mm)...và kết luận “Tại thời điểm kiểm tra hệ thống an toàn của xe như hệ thống phanh, hệ thống lái, còi điện còn hoạt động, còn hiệu quả; hệ thống đèn và một số hệ thống khác không đảm bảo kỹ thuật theo nội dung kiểm tra thực tế trên và tại thời điểm xảy ra tai nạn ngày 02/10/2020 thời hạn Giấy chứng nhận kiểm định ATKT&BVMT phương tiện cơ giới đường bộ số AM-0260969 không còn hiệu lực, không đủ điều kiện để lưu hành (có hiệu lực đến hết ngày 23/01/2014)”.
*Khám phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 97B1 - 696.70 có các dấu vết chính sau: Ốp nhựa gương chiếu hậu bên phải bị vỡ, kích thước 0,02m x 0,02m; ốp nhựa đèn pha bị bung rời khỏi vị trí ban đầu, kích thước 0,30m x 0,15m; đầu tay nắm bên phải có vết trầy xước màu trắng, có chiều hướng từ dưới lên trên, từ trước ra sau kích thước 0,02m x 0,01m; cánh yếm bên trái có vết trầy xước màu nâu, chiều hướng từ trước ra sau kích thước 0,15m x 0,01m; phía sau mặt ngoài đầu tay nắm bên trái có vết mài màu xanh kích thước 0,01m x 0,002m; mặt ngoài chân giẫm phía sau bên trái có vết trầy xước màu trắng chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới kích thước 0,08m x 0,02m...
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 12/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chợ Đồn kết luận: “Giá trị thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe LEAD, màu sơn vàng-nâu biển kiểm soát 97B1 - 696.70 là: 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng)”.
Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn đã tiến hành thu thập hồ sơ bệnh án đối với cháu Giá Thanh H bị thương do tai nạn và điều trị tại trung tâm y tế huyện Chợ Đồn xác định cháu H có một số vết thương chính như sau: Đa vết thương xây xước da cánh, cẳng bàn tay trái (Mặt ngoài cánh cẳng, bàn tay trái có nhiều vết xước da, chảy rỉ máu; ngón 3 tay trái mất móng, mặt trong đốt 2, 3 ngón II tay trái có vết thương rách da cơ chéo ngang ngón, bờ nham nhở, kích thước 2,5cm; mạng sườn trái chầy xước da. Chụp XQ tay trái không có tổn thương xương). Ngày 28/12/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn ra Quyết định trưng cầu giám định số 04 để giám định xác định % (Phần trăm) thương tích của cháu H và giao cho bố cháu H là ông Giá Hoàng T. Tuy nhiên qua làm việc anh T và cháu H đề nghị không giám định xác định % (Phần trăm) thương tích của cháu H do vết thương cháu H chỉ bị nhẹ và sợ ảnh hưởng đến tâm lý của cháu…cam kết không đơn thư, khiếu kiện gì về việc này. Do vậy, Cơ quan điều tra xét thấy thương tích của cháu chỉ bị thương nhẹ, vết thương ngoài da nên không cần thiết phải dẫn giải cháu H đi giám định theo quy định và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Quá trình điều tra, truy tố xác định: Hành vi Mã Đức T điều khiển xe chuyển hướng (rẽ phải) đột ngột, không chú ý quan sát, làm chủ phương tiện, và không có tín hiệu (Xi nhan) báo hướng rẽ khi đi qua ngã tư dẫn đến phần thùng xe ô tô bên phải T đang điều khiển va vào xe mô tô do chị Nguyễn Thị Hồng C điều khiển là nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả làm xe mô tô và chị C ngã đổ ra đường và phần bánh sau bên phải xe ô tô cán vào người chị C làm chị C tử vong tại chỗ, cháu H bị thương nhẹ.
Đối với hành vi điều khiển xe ô tô khi giấy chứng nhận kiểm định ATKT&BVMT phương tiện cơ giới đường bộ không còn hiệu lực, không đủ điều kiện lưu hành; chở hàng (Máy đào bánh xích) vượt quá chiều cao xếp hàng cho phép đối với xe ô tô tải, vượt phía sau thùng xe trên 10%; tự ý cải tạo kết cấu, hình dáng, kích thước của xe không đúng thiết kế đã đăng ký với cơ quan đăng ký xe của bị cáo Mã Đức T không phải là nguyên nhân xảy ra tai nạn, mà chỉ là lỗi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn đã tách các lỗi vi phạm này chuyển cho Công an huyện Chợ Đồn để xem xét, xử lý theo quy định.
Về vật chứng: 01 (Một) xe ô tô biển kiểm soát 16L-6928, nhãn hiệu Cửu Long, loại xe tải ben, màu sơn xanh, số máy D0132701051, số khung 550DG*002237. Trên thùng xe chở 01 máy đào bánh xích; 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 001951 cấp ngày 13/11/2007 do Công an thành phố Hải Phòng cấp; 01 (Một) Sổ chứng nhận kiểm định No: B0359891; 01 (Một) Giấy phép lái xe số 060103905372 mang tên Mã Đức T sinh ngày 25/02/1987; 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát: 97B1 - 696.70; nhãn hiệu HONDA; màu sơn: vàng nâu; số máy: JF79E0046320; số khung: 7919HY032658; số loại: LEAD. Tất cả số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Kho vật chứng Công an huyện Chợ Đồn chở xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra sự việc, Mã Đức T đã thỏa thuận bồi thường xong cho gia đình bị hại tổng số tiền 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại Bản cáo trạng số 06/CT - VKSCĐ ngày 05 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn đã truy tố bị cáo Mã Đức T về tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Về hình phạt áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mã Đức T từ 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về bồi thường thiệt hại: Người đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về vật chứng: Trả lại cho cho bị cáo Mã Đức T 01 (Một) xe ô tô biển kiểm soát 16L-6928, nhãn hiệu Cửu Long, loại xe tải ben, màu sơn xanh, số máy D0132701051, số khung 550DG*002237, trên thùng xe chở 01 máy đào bánh xích; 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 001951 cấp ngày 13/11/2007 do Công an thành phố Hải Phòng cấp; 01 (Một) Sổ chứng nhận kiểm định No: B0359891; 01 (Một) Giấy phép lái xe số 060103905372 mang tên Mã Đức T sinh ngày 25/02/1987; trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại ông Giá Hoàng T 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát: 97B1 - 696.70; nhãn hiệu HONDA; màu sơn: vàng nâu; số máy: JF79E0046320; số khung: 7919HY032658; số loại: LEAD. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị hại Giá Thanh H và người đại diện hợp pháp của bị hại ông Giá Hoàng T có đơn xin xét xử vắng mặt đồng thời đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì thêm.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n đã đượ c tranh tụng tại phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n định như sau:
[1] Về hà nh vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Công an huyệ n Chợ Đồn, Điề u tra viên, Việ n kiể m sá t huyệ n Chợ Đồn, Kiể m sá t viên trong quá trì nh điề u tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi , quyế t đị nh củ a cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng và ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng . Do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thự c hiệ n đề u hợ p pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Mã Đức T khai nhận:
Khoảng 06 giờ 10 phút ngày 02/10/2020 bị cáo (Có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 16L-6928 lưu thông theo hướng Tổ 16, thị trấn B, huyện C đi xã P, huyện C, khi đi đến ngã tư (Ngã tư đèn xanh, đèn đỏ) thuộc Tổ 4, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn bị cáo đột ngột điều khiển xe chuyển hướng rẽ phải. Tuy nhiên, do không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn, không có đèn tín hiệu báo hướng rẽ (Đèn xi nhan) nên khi chuyển hướng xe đã để phần khung thùng xe ô tô phía trước bên phải va chạm vào xe mô tô của chị Nguyễn Thị Hồng C chở theo con gái là cháu Giá Thanh H đang lưu thông cùng chiều sát phần đường bên phải làm cho xe mô tô chị C điều khiển ngã đổ xuống mặt đường. Hậu quả làm chị C tử vong tại chỗ, cháu Giá Thanh H ngồi sau xe chị C bị thương nhẹ. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu về hiện trường, giám định pháp y có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 14, Điều 15 Luật giao thông đường bộ, Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, gây hậu quả làm chết 01 người. Do đó, đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số: 06/CT - VKSCĐ ngày 05 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tí nh chấ t, mứ c độ hà nh vi của bị cáo thực hiện: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính về giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh mới đủ sức giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả xảy ra nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tự giác lên công an huyện Chợ Đồn để trình báo sự việc vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đầu thú, bị cáo được người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, ngoài ra bị cáo có ông ngoại (ông Triệu Văn A) là người có công với nước được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung : Tại khoản 5 Điề u 260 Bộ luậ t hì nh sự quy đị nh:“Người phạm tội cò n có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ , cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm”. Qua cá c tài liệu, chứ ng cứ đã đượ c thu thậ p và lờ i khai củ a bị cá o tại phiên tò a thể hiện : Bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định. Do đó, Hộ i đồ ng xé t xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo và Người đại diện hợp pháp của bị hại, đã thỏa thuận bổi thường thiệt hại xong, Người đại diện hợp pháp của các bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng: 01 (Một) xe ô tô biển kiểm soát 16L-6928, nhãn hiệu Cửu Long, loại xe tải ben, màu sơn xanh, số máy D0132701051, số khung 550DG*002237, trên thùng xe chở 01 máy đào bánh xích; 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 001951 cấp ngày 13/11/2007 do Công an thành phố Hải Phòng cấp; 01 (Một) Sổ chứng nhận kiểm định No: B0359891; 01 (Một) Giấy phép lái xe số 060103905372 mang tên Mã Đức T sinh ngày 25/02/1987 trả lại cho bị cáo Mã Đức T; 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát: 97B1 - 696.70; nhãn hiệu HONDA; màu sơn: vàng nâu; số máy: JF79E0046320; số khung: 7919HY032658; số loại: LEAD trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại ông Giá Hoàng T.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí tòa án. Bị cáo Mã Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[2]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mã Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
[3]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mã Đức T 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Mã Đức T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
[4]. Về vật chứng vụ án: Trả lại cho bị cáo Mã Đức T 01 (Một) xe ô tô biển kiểm soát 16L - 6928, nhãn hiệu Cửu Long, loại xe tải ben, màu sơn xanh, số máy D0132701051, số khung 550DG*002237, trên thùng xe chở 01 máy đào bánh xích; 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 001951 cấp ngày 13/11/2007 do Công an thành phố Hải Phòng cấp; 01 (Một) Sổ chứng nhận kiểm định No: B0359891; 01 (Một) Giấy phép lái xe số 060103905372 mang tên Mã Đức T sinh ngày 25/02/1987. Trả lại cho ông Giá Hoàng T là người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị Hồng C 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát: 97B1 - 696.70, nhãn hiệu HONDA, màu sơn: vàng, nâu; số máy: JF79E0046320, số khung: 7919HY032658, số loại: LEAD.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/02/2021giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).
[5]. Về án phí: Bị cáo Mã Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
[6]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS tỉnh; - Sở tư pháp; - VKSND Chợ Đồn; - Công an Chợ Đồn; - THADS Chợ Đồn; - Người tham gia tt; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Văn Mẫn |