- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngyễn Quốc T - Nguyễn Thị Hoàng Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Hoàng Th về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” như sau:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2021/HNGĐ-ST Ngày: 25-01-2021 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Phước Thành
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thắm;
Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1112/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2020 về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXXST-HN ngày 05 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1982; trú tại: Khu phố 2, phường MP, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng Th, sinh năm 1983; trú tại: Khu phố 4, phường MP, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T trình bày:
Ông T và bà Nguyễn Thị Hoàng Th là vợ chồng, tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) MP, huyện (nay là thị xã) BC, tỉnh Bình Dương vào năm 2007.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian. Đến cuối năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Nguyên nhân do bất đồng trong lối sống, trong suy nghĩ và công việc, bà Th thường bất mãn với cuộc sống gia đình, thường bỏ nhà đi chơi qua đêm, không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Ông T nhận thấy tình cảm giữa ông T và bà Th cũng đã phai nhạt. Hiện tại, cuộc sống vợ chồng giữa ông T và bà Th đã không có ý nghĩa. Do đó, ông T đề nghị Tòa án giải quyết cho ông T được ly hôn với bà Th.
Về con chung: Quá trình chung sống, ông và bà Th có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Anh T1, sinh ngày 19/10/2008 và Nguyễn Hoàng Tâm N, sinh ngày 02/5/2018. Trước khi lên Tòa thì ông và bà Th đã thỏa thuận về con chung thì mỗi người nuôi một đứa. Nay ly hôn thì ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, giao cháu N cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn bà Nguyễn Thị Hoàng Th trình bày:
Bà thống nhất như lời trình bày của ông T về việc đăng ký kết hôn và thời gian chung sống.
Vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc. Tuy nhiên do thời gian gần đây ông T thường xuyên nhậu nhẹt về kiếm cớ đập phá đồ đạc, chửi bới vợ con, không quan tâm, chăm sóc vợ con cũng như cuộc sống gia đình. Mặc dù bà đã khuyên nhủ nhưng ông T không nghe, do quá buồn chán, lo nghĩ nên bà đã dẫn theo con đi du lịch để giảm stress, khi đi bà có báo cho ông T biết, ông T cũng không nói là cấm đoán bà đi hay sao. Nay ông T nói bà tự ý bỏ nhà đi chơi như thế là không đúng. Hiện tại, ông T đã tự ý không về chung sống với bà nữa.
Nhận thấy giữa bà và ông T vẫn còn tình cảm với nhau nên bà không đồng ý ly hôn với ông T.
Về con chung: Thống nhất với lời trình bày của ông T. Trường hợp hai vợ chồng không thể hàn gắn dẫn đến ly hôn thì bà thống nhất với ý kiến của ông T cũng như nguyện vọng của các con là mỗi người nuôi một đứa, bà sẽ nuôi cháu N và ông T nuôi cháu T1. Không bên nào phải cấp dưỡng cho bên nào.
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu khởi kiện. Ông đề nghị HĐXX xem xét cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hoàng Th vì tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng hiện tại đã sống ly thân. Về con chung: Thống nhất mỗi người nuôi một đứa, ông đồng ý nuôi cháu T1, giao cháu N cho bà Th nuôi dưỡng, hai bên không ai phải cấp dưỡng cho ai. Về vấn đề tài sản chung thì ông không tranh chấp trong vụ án này, các bên sẽ tự thương lượng, thỏa thuận với nhau sau. Vợ chồng không có nợ chung, do đó không yêu cầu HĐXX giải quyết.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Hoàng Th cho rằng, mặc dù hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân nhưng bà và ông T vẫn còn tình cảm với nhau nên không đồng ý ly hôn. Về tài sản chung và nợ chung thì bà Th không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết. Về con chung, bà Th giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình tố tụng.
* Kiểm sát viên đại diện VKSND thị xã Bến Cát phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xét mâu thuẫn giữa các đương sự đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu được ly hôn với bị đơn.
+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Anh T1 cho ông T nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Hoàng Tâm N cho bà Th nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự tranh chấp về “ly hôn”. Bị đơn bà Nguyễn Thị Hoàng Th có địa chỉ cư trú tại phường MP, thị xã BC, tỉnh Bình Dương, nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).
Về nội dung vụ án:
Ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị Hoàng Th có tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân thị trấn MP, huyện BC (nay phường MP, thị xã BC), tỉnh Bình Dương vào năm 2007, nên hôn nhân giữa bà Th và ông T là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các đương sự đều thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn với nhau, hiện tại hai vợ chồng đã không còn chung sống với nhau. Phía nguyên đơn có yêu cầu được ly hôn với bị đơn. Phía bị đơn cho rằng các bên còn tình cảm với nhau, nên bị đơn không đồng ý ly hôn.
HĐXX thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà Th đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng trên thực tế đã sống ly thân, mặc dù bị đơn bà Th không đồng ý ly hôn nhưng nguyên đơn là ông T khẳng định đã hết tình cảm với bà Th và nhất quyết yêu cầu được ly hôn với bà Th. Điều này thể hiện hôn nhân giữa bà Th và ông T đã không đạt được mục đích, không thể kéo dài cuộc hôn nhân này.
Về con chung: Ông T và bà Th đều thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Anh T1, sinh ngày 19/10/2008 và Nguyễn Hoàng Tâm N, sinh ngày 02/5/2018. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các bên thống nhất giao con chung là cháu T1 cho ông T nuôi dưỡng, giao con chung cháu N cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu của ông T, bà Th là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các đương sự không tranh chấp, không có yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân gia đình, nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, đúng quy định pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều: 28, 35, 39, 147 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều: 51, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Hoàng Th về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Quốc T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hoàng Th.
- Về con chung:
+ Giao cháu Nguyễn Hoàng Anh T1, sinh ngày 19/10/2008 cho ông Nguyễn Quốc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
+ Giao cháu Nguyễn Hoàng Tâm N, sinh ngày 02/5/2018 cho bà Nguyễn Thị Hoàng Th được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Ông T và bà Th đều không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ông T và bà Th đều có quyền và nghĩa vụ đối với các con chung. Ông T và bà Th được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc các con chung, không ai được quyền cản trở ông Tùng thực hiện quyền này.
Khi cần thiết, vì lợi ích của các con chung một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp, nên không đặt ra xem xét.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Quốc T phải nộp số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào 300.000 đồng theo Biên lai số 0054109 ngày 14/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thắm
Nguyễn Kim Lý
Vũ Phước Thành
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - UBND phường MP, thị xã BC; - - Các đương sự; - - Lưu: Hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Phước Thành |