vanban.org

Bản án 07/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của chị Mai Thị H đề ngày 02/11/2020.

Xử: Chị Mai Thị H được ly hôn với anh Đặng Minh P. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung là Đặng Minh Kha, sinh ngày 06/3/2006 và Đặng Minh Khanh, sinh ngày 23/01/2010 cho chị Mai Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của chị Mai Thị H đề ngày 02/11/2020.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ KONTUM
TỈNH KONTUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 15/3/2021
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Nghiên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Chế Thị Mai

2/ Ông Lê Văn Khanh

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Lê Uyên Thư.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Trần Bá Tài – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 431/2020/TLST-HNGĐ ngày 04/11/2020 về việc“Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Mai Thị H, sinh 1981 Địa chỉ: Thôn 2, xã Hòa Bình, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (Có mặt);

- Bị đơn: Anh Đặng Minh P, sinh năm 1978 Địa chỉ: Thôn 2, xã Hòa Bình, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/11/2020, bản tự khai các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn, chị Chị Mai Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh P tự nguyện lấy nhau năm 1998 nhưng đến ngày 28/6/2004 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Hòa Bình, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng 16 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là từ cuối năm 2018 cho đến nay. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do anh P không chăm lo làm ăn mà thường xuyên ăn nhậu rồi kiếm chuyện chửi bới xúc phạm danh dự và vô cớ đánh đập chị nhiều lần trước mặt các con gây ảnh hưởng xấu về mặt tâm lý. Về trách nhiệm đối với gia đình, anh P không đóng góp tiền bạc cho chị nuôi các con dẫn đến kinh tế khó khăn. Do quá căng thẳng nên chị H phải làm đơn ra Tòa án xin ly hôn với anh P hai lần, lần 1 vào đầu năm 2019, lần hai vào đầu năm 2020, sau đó được Tòa án hòa giải chị lại rút đơn về để tạo điều kiện cho anh P sửa chữa khuyết điểm đoàn tụ với gia đình. Tuy nhiên chỉ được một thời gian ngắn anh P không khắc phục được khuyết điểm. Vì vậy chị nhận thấy về mâu thuẫn vợ chồng chị đã đến mức trầm trọng, về tình cảm không thể hàn gắn được, lần này ra tòa là lần thứ ba nên chị không thể rút đơn xin ly hôn mà đề nghị Tòa án phải xử cho chị được ly hôn với anh P. Về chứng cứ để chứng minh mâu thuẫn của vợ chồng chị đã cung cấp cho Tòa án hai đĩa ghi âm và video để chứng minh mâu thuẫn của vợ chồng là đúng sự thật mong tòa xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Có 03 con chung là Đặng Minh Kh, sinh ngày 12/9/1999, Đặng Minh Kha, sinh ngày 06/3/2006, Đặng Minh Khanh, sinh ngày 23/01/2010, nguyện vọng chị H xin nuôi cả ba cháu và yêu cầu anh P đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu Khanh, cháu Kha mỗi tháng 4.000.000 đồng. Tại phiên tòa chị H rút yêu cầu chia con chung đối với cháu Đặng Minh Kh vì cháu đã trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn, anh Đặng Minh P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian chung sống, đăng ký kết hôn như chị H trình bày là đúng. Về mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trong thời gian từ năm 2018 trở lại đây là có thật. Nhưng nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, về kinh tế vợ chồng làm ăn thiếu sự bàn bạc như vợ anh thế chấp nhà đất vay số tiền 200 triệu đồng về làm ăn gì anh cũng không biết. Về mâu thuẫn vợ chồng theo anh P còn hàn gắn được, anh không muốn ly hôn vì không tốt cho các con. Tuy nhiên nếu vợ cương quyết một mực xin ly hôn thì anh cũng đồng ý và đề nghị Tòa xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Có 03 con chung là Đặng Minh Kh, sinh ngày 12/9/1999, Đặng Minh Khanh, sinh ngày 23/01/2010, Đặng Minh Kha, sinh ngày 06/3/2006 theo anh P thì ai nuôi cũng được, tùy theo nguyện vọng của các con.Về cấp dưỡng anh không có thu nhập ổn định nên chỉ đóng góp theo tự nguyện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng trong đó nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến làm việc tham gia hòa giải, như vậy anh P đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên tại phiên tòa đã có mặt. Tài liệu chứng cứ do nguyên đơn đợn giao nộp theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 5 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Các Điều 51, Điều 56; Điều 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị H, được ly hôn với anh Đặng Minh P; Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Ngày 04/11/2020 Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum đã thụ lý vụ án xin ly hôn của nguyên đơn là chị Mai Thị H. Xét thấy chị Mai Thị H và anh Đặng Minh P đều có nơi cư trú tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum do đó, yêu cầu ly hôn của chị H là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị H và anh Đặng Minh P tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 28/6/2004 tại UBND xã Hòa Bình, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum theo đúng quy định của pháp luật, không vi phạm điều kiện kết hôn, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Mai Thị H và anh Đặng Minh P là hôn nhân hợp pháp.

Xét mâu thuẩn của vợ chồng chị H và anh P trong quá trình chung sống đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, thời gian xảy ra mâu thuẫn từ cuối năm 2018 cho đến nay là đúng sự thật. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn chủ yếu là do anh P không chăm lo làm ăn, tham gia chơi bời ngoài xã hội dẫn đến ảnh hưởng đời sống kinh tế của gia đình. Khi chị H góp ý thì anh P không nghe để sửa chữa mà sau mỗi lần đi nhậu về thường kiếm chuyện chửi bới xúc phạm danh dự của chị H và có lần vô cớ đánh đập chị trước mặt các con chứng kiến gây ảnh hưởng xấu về mặt tâm lý. Ngoài ra anh P còn thiếu trách nhiệm trong việc đóng góp tiền bạc cho chị H để nuôi dưỡng các con. Do mâu thuẫn quá căng thẳng dẫn đến, đầu năm 2019 và năm 2020 chị H đã hai lần nộp đơn xin ly hôn ra Tòa, sau đó được Hòa giải chị lại rút đơn về đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên chỉ được một thời gian ngắn, quan hệ vợ chồng vẫn không được cải thiện. Như vậy về quan hệ hôn nhân giữa anh P và chị H đã có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chung sống sẽ không đem lại hạnh pc cho cả hai bên. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mai Thị H.

Về con chung: Có 03 con chung là Đặng Minh Kh, sinh ngày 12/9/1999, Đặng Minh Kha, sinh ngày 06/3/2006, Đặng Minh Khanh, sinh ngày 23/01/2010. Riêng cháu Đặng Minh Kh đã trưởng thành chị không yêu cầu chia. Xét nguyện vọng của chị H và các con chung đều xin ở với mẹ nên chấp nhận yêu cầu của chị H. Về cấp dưỡng nuôi con chung tại phiên tòa chị Hòa rút yêu cầu, anh P không có khả năng cấp dưỡng hàng tháng nên HĐXX không xét.

Anh P có quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Chị Mai Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1, 5 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39; Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 51, 56; 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của chị Mai Thị H đề ngày 02/11/2020.

Xử: Chị Mai Thị H được ly hôn với anh Đặng Minh P.

- Về nuôi con chung: Giao 02 con chung là Đặng Minh Kha, sinh ngày 06/3/2006 và Đặng Minh Khanh, sinh ngày 23/01/2010 cho chị Mai Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Anh Đặng Minh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con không ai được cản trở. Anh P không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về án phí: Căn cứ Điều 144, 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Chị Mai Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm; được đối trừ tiền nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003758 ngày 02/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố KonTum.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/3/2021) nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo trình tự pc thẩm.

Cỡ chữ