vanban.org

Bản án 07/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TU xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đàm Thị V.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị V (Đàm Thị H) được ly hôn với anh Vương Trọng N. Về án phí dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp về hôn nhân gia đình ly hôn"
  • Tòa quyết gì? TU xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đàm Thị V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V ĐỒN
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07 /2021/HNGĐ - ST
Ngày 27/7/2021
V/v: Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V ĐỒN, tØnh Qu¶ng Ninh

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Ninh

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Văn Bé

- Bà Hoàng Thị Minh Tâm

Thư ký phiên toà: Bà Tăng Thị Thủy – Thư ký Toà án nhân dân huyện V Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V Đồn, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Mạc Thị Thắm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 7 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện V Đồn, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2021/TLST-HNGĐ ngày 10/3/2021 về việc: “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 25/6/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2021/QĐHPT- HNGĐ ngày 15/7/2021, giữa các đương sự:

- N đơn: Chị Đàm Thị V (tên gọi khác: Đàm Thị H) – sinh năm: 1980; địa chỉ: KX, TTCR, huyện V Đồn, tỉnh Quảng Ninh – Có mặt.

- Bị đơn: Anh Vương Trọng N – sinh năm: 1976; địa chỉ: KX, TTCR, huyện V Đồn, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 03/3/2021, các lời khai tại Toà án và tại phiên toà, N đơn là chị Đàm Thị V khai:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh N kết hôn là tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đông Xá, huyện V Đồn, tỉnh Quảng Ninh ngày 01/8/2001. Trước khi kết hôn chưa ai có vợ có chồng, sau khi kết hôn chị V và anh N chung sống cùng nhau tại KX, TTCR huyện V Đồn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2017 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, N nhân do anh N thường xU uống rượu say về đánh chửi chị V, đập phá đồ đạc trong gia đình. Đã nhiều lần chị V tha thứ cho anh N, anh N cũng hứa thay đổi bản thân, nhưng anh N vẫn không thay đổi. Đến nay, vợ chồng chị đã sống ly thân, mỗi người một nơi không còn quan hệ tình cảm, bản thân chị V thấy không còn tình cảm vợ chồng với anh N, xét thấy không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống chung được nữa, chị V yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vương Trọng N.

+ Về con chung: Chị V và anh N có 01 con chung là Vương Thị Thu U - sinh ngày 14/01/2002, đã thành niên, không có nhược điểm về thể chất, tâm thần nên chị V không yêu cầu Toà án giải quyết.

+ Về tài sản chung: Chị V, anh N không có tài sản chung, chị V không yêu cầu Toà án giải quyết.

+ Về công nợ chung: Chị Đàm Thị V và anh Vương Trọng N không có công nợ chung, chị V không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 23/6/2021 có sự tham gia của lãnh đạo KX, TTCR, huyện V Đồn có nội dung: Chị Đàm Thị V và anh Vương Trọng N là vợ chồng sống tại KX, TTCR, huyện V Đồn. Chị V, anh N có mâu thuẫn nhiều năm nay. Chị V đã nhiều lần đề nghị khu phố tổ chức hòa giải mâu thuẫn vợ chồng cho anh chị nhưng không thành. Lãnh đạo khu phố đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V Đồn tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ ý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự; N đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Chị Đàm Thị V (Đàm Thị H) là N đơn có đơn xin ly hôn anh Vương Trọng N, anh N có hộ khẩu thường trú tại KX, TTCR, huyện V Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện V Đồn quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Anh Vương Trọng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Vương Trọng N.

[3] Về Quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa chị Đàm Thị V và anh Vương Trọng N là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ, quá trình chung sống vợ chồng anh chị xảy ra mâu thuẫn, N nhân do anh N thường xU uống rượu say về đánh chửi chị V, đập phá đồ đạc trong gia đình. Đã nhiều lần chị V tha thứ cho anh N, anh N cũng hứa thay đổi bản thân, nhưng anh N vẫn không thay đổi. Đến nay, vợ chồng chị đã sống ly thân, mỗi người một nơi không còn quan hệ tình cảm, bản thân chị V thấy không còn tình cảm vợ chồng với anh N. Tại phiên tòa chị V vẫn giữ N quan điểm yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vương Trọng N, như vậy chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N, là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị V và anh N có 01 con chung là Vương Thị Thu U - sinh ngày 14/01/2002, hiện đã thành niên, không có nhược điểm về thể chất, tâm thần, chị V không yêu cầu Toà án giải quyết, vì vậy không xét.

Về tài sản chung, công nợ chung:

Chị Đàm Thị V và anh Vương Trọng N không có tài sản chung, không có công nợ chung, vì vậy, Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí:

Chị Đàm Thị V phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

TU xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đàm Thị V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị V (Đàm Thị H) được ly hôn với anh Vương Trọng N.

2. Về án phí dân sự:

Chị Đàm Thị V phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn sơ thẩm, được trừ đi số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu tiền số 0002033 ngày 10/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Đàm Thị V có quyền kháng cáo trong hạn muời lăm ngày kể từ ngày tU án; Anh Vương Trọng N có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Viện kiểm sát nhân dân huyện V Đồn

- CCTHADS huyện V Đồn;

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

- Các đương sự;

- UBND xã Đông Xá, h. V Đồn;

- Lưu hồ sơ, lưu văn phòng

Lê Hồng Ninh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Bé – Hoàng Thị Minh Tâm

Lê Hồng Ninh

Cỡ chữ