vanban.org

Bản án 07/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị Kim L đối với ông Trần Thanh Q. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Kim L và ông Trần Thanh Q. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà L xin ly hôn với ông Q, yêu cầu được quyền nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 07/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 26-3-2021
V/v Tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Hoàng;

Bà Nguyễn Thị Minh Chuyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên tòa: Bà Neàng Sa Men – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 364/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2020 về việc "Xin ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1989, nơi cư trú: tổ 01, ấp V, xã V, thành phố C, tỉnh A, có mặt;

- Bị đơn: Ông Trần Thanh Q, sinh năm 1983, nơi cư trú: tổ 12, ấp S, xã T, huyện T, tỉnh A, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 26 tháng 8 năm 2020 và lời trình bày của nguyên đơn bà Trần Thị Kim L trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

- Về hôn nhân: Bà và ông Trần Thanh Q chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T theo giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 25/11/2008. Quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm, không phù hợp nhau, đến năm 2019 đã sống ly thân cho đến nay.

Bà L cảm thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nên yêu cầu ly hôn với ông Trần Thanh Q.

- Về con chung: Có hai con chung Trần Thị Thúy V, sinh ngày 03/9/2006 và Trần Minh T, sinh ngày 30/11/2012, từ khi vợ chồng ly thân đến nay thì con chung do Bà L nuôi dưỡng, bà yêu cầu được quyền nuôi hai con chung và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có.

* Tại phiên tòa hôm nay và trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Thanh Q đều vắng mặt: Không có ý kiến trình bày.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật:

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Kim L và ông Trần Thanh Q có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy cả hai đã xảy ra mâu thuẫn từ năm 2019 cả hai đã sống ly thân. Từ đó, thấy rằng mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên giải quyết cho ly hôn theo nguyện vọng của Bà L là phù hợp.

Về con chung: Có hai con chung Trần Thị Thúy V, sinh ngày 03/9/2006 và Trần Minh T, sinh ngày 30/11/2012. Hai cháu đều có nguyện vọng được sống với mẹ, do đó cần giao con chung cho Bà L nuôi dưỡng là phù hợp nguyện vọng và quy định pháp luật.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về nợ chung: Không có.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

* Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập: Biên bản xác minh tại Ban ấp Sơn Tây, xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên ngày 28/12/2020; Bản tự khai của cháu Trần Thị Thúy V, ghi ngày 14/12/2020; Bản tự khai của cháu Trần Minh T, ghi ngày 14/12/2020; Bản sao Trích lục kết hôn số 392/TLKH-BS ngày 25/8/2020 của Ủy ban nhân dân xã Thới Sơn của Trần Thị Kim L và Trần Thanh Q; bản sao giấy khai sinh số 174 ngày 26/11/2008 của Ủy ban nhân dân xã Thới Sơn (của cháu Trần Thị Thúy V); Bản sao giấy khai sinh số 129 ngày 26/8/2020 của Ủy ban nhân dân xã T (của cháu Trần Minh T);

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng chỉ có bà Trần Thị Kim L có mặt, bị đơn ông Trần Thanh Q đều vắng mặt. Do đó, không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Trần Thị Kim L, có mặt. Riêng bị đơn ông Trần Thanh Q, vắng mặt;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Bị đơn ông Trần Thanh Q đã được triệu tập hợp lệ có mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Trần Thanh Q có đăng ký hộ khẩu và thường trú tại tổ 12, ấp S, xã T, huyện T, tỉnh A. Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Kim L và ông Trần Thanh Q chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, giấy chứng nhận kết hôn số 85, ngày 25/11/2008 (theo bản sao trích lục kết hôn số 392/TLKH-BS ngày 25/8/2020) đúng quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000, nên đây là hôn nhân hợp pháp theo pháp luật. Xét về tình cảm giữa Bà L và ông Q thì thấy rằng: Cả hai đã xảy ra mâu thuẫn nên sống ly thân từ năm 2019, trong suốt thời gian dài vẫn không thể tạo điều kiện để hàn gắn được dẫn đến năm 2020 Bà L xin ly hôn. Như vậy, thấy rằng cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử thấy rằng bà Trần Thị Kim L xin ly hôn là có căn cứ.

Về con chung: Có hai con chung Trần Thị Thúy V, sinh ngày 03/9/2006 và Trần Minh T, sinh ngày 30/11/2012, hai cháu Vy và Thư có nguyện vọng được sống với mẹ là bà Trần Thị Kim L. Xét thấy từ khi vợ chồng không còn sống chung thì con chung đều do Bà L là người nuôi dưỡng, do đó để không làm thay đổi điều kiện sinh sống, học tập của các cháu, cần tiếp tục giao con chung cho Bà L nuôi dưỡng là phù hợp nguyện vọng và quy định pháp luật theo quy định khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà L không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Do đó, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị là có cơ sở.

Về án phí: Bà Trần Thị Kim L khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự hôn nhân sơ thẩm theo mức không giá ngạch; ông Trần Thanh Q không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị Kim L đối với ông Trần Thanh Q.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Kim L và ông Trần Thanh Q.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao hai con chung là Trần Thị Thúy V, sinh ngày 03/9/2006 và Trần Minh T, sinh ngày 30/11/2012 cho bà Trần Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Ông Trần Thanh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Trần Thị Kim L cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Trần Thanh Q quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Kim L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2019/0005823 ngày 07 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên, bà Trần Thị Kim L đã nộp xong.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Giấy chứng nhận kết hôn số 85, ngày 25/11/2008 của Ủy ban nhân dân xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự.

Cỡ chữ