vanban.org

Bản án 07/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Ông Trần Văn U và bà Nguyễn Ngọc Kh được ly hôn.

Về con chung: Ông Trần Văn U được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Trần Bích Ngọc, sinh ngày 19/6/2005. Bà Nguyễn Ngọc Kh có quyền thăm nom cháu Trần Bích Ngọc, sinh ngày 19/6/2005 không ai được cản trở. Ông Trần Văn U cùng các thành viên trong gia đình không được cản t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hon nhan"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Ông Trần Văn U và bà Nguyễn Ngọc Kh được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG P
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2021/HNGĐ - ST.
Ngày: 08 – 3 - 2021.
V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG P, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Quyết Chiến.

2. Ông Nguyễn Kim Phước.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Buốl – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 251/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn U, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp 1, thị trấn Long P, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc Kh, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp 1, thị trấn Long P, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 24/9/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Văn U trình bày:

Vào năm 2012, ông và bà Kh có kết hôn với nhau, kết hôn trên cơ sở do hai bên tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Long P vào ngày 08/7/2013. Chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống hàng ngày, vợ chồng thường xuyên cải vã, đời sống vợ chồng không hạnh Ngọcvà đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Ngọc Kh.

Trong thời gian chung sống ông và bà Kh có hai người con tên Trần Bích Ngọc, sinh ngày 19/6/2005 và Trần Tuấn Anh, sinh ngày 14/11/1994. Hiện nay cháu Ngọc đang sống với ông U, riêng cháu Tuấn Anh đã trưởng thành. Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Ngọc và không yêu cầu bà Kh phải cấp dưỡng nuôi con.

Trong quá trình chung sống ông và bà Kh không có tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long P tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Văn U

+ Về con chung: Giao con chung tên Trần Bích Ngọc, sinh ngày 19/6/2005 cho ông U được trực tiếp nuôi dưỡng và bà Kh không cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Tuấn Anh đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Ông Trần Văn U xác định trong thời gian chung sống ông Trần Văn U và bà Nguyễn Ngọc Kh không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Ngọc Kh mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Ngọc Kh.

Bên cạnh đó, ông Trần Văn U vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Trần Văn U

Về hôn nhân: Ông Trần Văn U và bà Nguyễn Ngọc Kh có đăng ký kết hôn vào ngày 08/7/2013 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Long P. Hôn nhân của ông bà tuân thủ các quy định từ Điều 9 đến Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Văn U và bà Nguyễn Ngọc Kh là hợp pháp.

Ông Trần Văn U vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án xin được ly hôn với bà Nguyễn Ngọc Kh. Xét yêu cầu của ông Trần Văn U Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng về những sinh hoạt trong cuộc sống, bà Nguyễn Ngọc Kh không lo chăm sóc cho gia đình. Từ khi nguyên đơn chính thức yêu cầu xin ly hôn cho đến nay, Tòa án đã gởi thông báo về việc thụ lý cho bà Nguyễn Ngọc Kh nhưng không có văn bản Pc đáp và giữa ông Trần Văn U, bà Nguyễn Ngọc Kh từ khi sống ly thân vào năm 2017 cho đến nay nhưng hai bên không tìm biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng và phù hợp với biên bản xác minh ngày 08/10/2020 về tình trạng hôn nhân giữa ông Trần Văn U, bà Nguyễn Ngọc Kh của Tòa án nhân dân huyện Long P. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông Trần Văn U và bà Nguyễn Ngọc Kh đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn U được ly hôn với bà Nguyễn Ngọc Kh.

Về con chung: Ông Trần Văn U yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Bích Ngọc, sinh ngày 19/6/2005. Xét thấy, hiện nay cháu Ngọc đang sống với ông U, cháu Ngọc cũng có nguyện vọng được sống với ông U và để ổn định cuộc sống, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông U là người được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Trần Bích Ngọc, sinh ngày 19/6/2005 là có căn cứ.

Bà Kh có quyền thăm nom cháu Trần Bích Ngọc, sinh ngày 19/6/2005 không ai được cản trở theo khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ông U cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Kh trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Bích Ngọc, sinh ngày 19/6/2005 theo khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông U không yêu cầu bà Kh cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án ông U cho rằng trong thời gian chung sống bà Kh, ông U không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết là có căn cứ.

Về án phí: Ông Trần Văn U phải chịu án phí theo qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bà Nguyễn Ngọc Kh không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long P về đề nghị giải quyết về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Ông Trần Văn U và bà Nguyễn Ngọc Kh được ly hôn.

2. Về con chung: Ông Trần Văn U được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Trần Bích Ngọc, sinh ngày 19/6/2005. Bà Nguyễn Ngọc Kh có quyền thăm nom cháu Trần Bích Ngọc, sinh ngày 19/6/2005 không ai được cản trở.

Ông Trần Văn U cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Nguyễn Ngọc Kh trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Bích Ngọc

3. Bà Nguyễn Ngọc Kh không phải cấp dưỡng nuôi con do ông Trần Văn U không yêu cầu.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không có và các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn U phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2017/0007197 ngày 05/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long P. Như vậy, Ông Trần Văn U đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Ngọc Kh không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

6. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự sơ thẩm.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ