vanban.org

Bản án 07/2021/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn Tuyến.

Buộc anh Nguyễn Đức Cảnh phải có nghĩa vụ trả cho anh Bùi Văn Tuyến số tiền 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng). Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất đố… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Bùi Văn T kiện đòi tài sản với Nguyễn Đức C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn Tuyến.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 164 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN PHONG
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2021/DS-ST
Ngày 19/4/2021
V/v tranh chấp kiện đòi tài sản.
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Phương.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nghiêm Đình Chế và ông Nguyễn Thế Long.
Phong.
Lưu Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 132/2020/TLST-
DS, ngày 12 tháng 10 năm 2020 về việc tranh chấp kiện đòi tài sản, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2021/QĐST-DS ngày 25/02/2021 giữa:
Nguyên đơn: Anh Bùi Văn Tuyến, sinh năm 1981 (có mặt);
phố Hà Nội.
Giáp – Luật sư và ông Mai Bá Hải – Luật sư – Công ty luật TNHH Hoàng Sa.
phố Hà Nội.
Ông Giáp có mặt, ông Hải có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Đức Cảnh, sinh năm 1991 (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/9/2020 và các lời khai tiếp theo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, nguyên đơn là anh Bùi Văn Tuyến thống nhất trình bày:

Ngày 16/4/2019, anh và anh Nguyễn Đức Cảnh có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 118m, tờ bản đồ số 01 có diện tích 408 m2, tại địa chỉ thôn Trung Lạc, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 461231 do UBND huyện Yên Phong cấp ngày 08/11/2001. Tại thời điểm ký hợp đồng thì thửa đất này đã được anh Cảnh thế chấp tại Ngân hàng SeABank chi nhánh Bắc Ninh.

Ngày 16/4/2019, anh Tuyến thực hiện việc chuyển tiền đặt cọc số tiền là 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của anh Cảnh tại Ngân hàng SeABank chi nhánh Bắc Ninh. Ngày hôm sau, anh Cảnh đã phá vỡ hợp đồng. Đến ngày 26/4/2019, anh Cảnh trả tiền đặt cọc cho anh Tuyến số tiền là 1.500.000.000 đồng, số tiền anh Cảnh còn nợ anh Tuyến là 1.500.000.000 đồng. Anh Tuyến đã nhiều lần đòi nhưng anh Cảnh không trả số tiền 1.500.000.000 đồng trên.

Nay anh Tuyến yêu cầu anh Cảnh phải trả cho anh số tiền 1.500.000.000 đồng, không yêu cầu anh Cảnh phải trả tiền lãi.

Đối với bị đơn là anh Nguyễn Đức Cảnh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án và không cung cấp cho Tòa án bất cứ lời khai, chứng cứ gì.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng theo pháp luật.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điều 26, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng điều 164; 166 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn Tuyến.

- Buộc anh Nguyễn Đức Cảnh phải có nghĩa vụ trả cho anh Bùi Văn Tuyến số tiền 1.500.000.000 đồng.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Bị đơn là anh Nguyễn Đức Cảnh có nơi cư trú tại thôn Trung Lạc, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Nguyên đơn là anh Bùi Văn Tuyến đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh giải quyết việc tranh chấp kiện đòi tài sản với anh Cảnh. Do vậy vụ án tranh chấp kiện đòi tài sản giữa anh Bùi Văn Tuyến và anh Nguyễn Đức Cảnh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Tại “Hợp đồng đặt cọc” đề ngày 16/4/2019 đã thể hiện anh Nguyễn Đức Cảnh có nhận của anh Bùi Văn Tuyến số tiền là 3.000.000.000 đồng. Ngoài ra, các chứng cứ, tài liệu do anh Tuyến cung cấp là các hình ảnh thể hiện việc anh Tuyến đã thực chuyển số tiền 3.000.000.000 đồng vào tài khoản của anh Cảnh tại Ngân hàng SeABank chi nhánh Bắc Ninh. Số tiền anh Tuyến chuyển được chia thành 10 lần chuyển, mỗi lần chuyển là 300.000.000 đồng với các mã giao dịch như sau: “FT19106961950724”; “FT19106710765732”; “FT19106261608777”;

“FT19106303007074”;

“FT19106601757705”; “FT19106140598528”;

“FT19106849589527”;

“FT19106760250659”; “FT19106058062003”; “FT19106024875260”. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, đề nghị Ngân hàng SeABank chi nhánh Bắc Ninh cung cấp thông tin tài khoản của anh Nguyễn Đức Cảnh từ ngày 01/4/2019 đến ngày 30/4/2019. Thông tin Ngân hàng SeABank chi nhánh Bắc Ninh cung cấp trùng khớp với chứng cứ, tài liệu mà anh Tuyến cung cấp.

Tại giấy viết tay đề ngày 26/4/2019 đã thể hiện anh Nguyễn Đức Cảnh có nhận của anh Bùi Văn Tuyến số tiền là 3.000.000.000 đồng, đồng thời thể hiện anh Cảnh đã thanh toán trả cho anh Tuyến số tiền 1.500.000.000 đồng và còn nợ anh Tuyến số tiền là 1.500.000.000 đồng.

Do anh Cảnh đã ký tên vào các văn bản trên nhưng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi khi anh Tuyến yêu cầu nên anh Tuyến đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh Cảnh phải trả số tiền là 1.500.000.000đ, không yêu cầu lãi suất. HĐXX nhận thấy yêu cầu này của anh Tuyến là có căn cứ và phù hợp với quy định tại điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền đòi lại tài sản nên cần được chấp nhận để buộc anh Cảnh phải trả cho anh Tuyến tổng số tiền là 1.500.000.000đ.

Về án phí: Vì yêu cầu của anh Bùi Văn Tuyến được chấp nhận. Do vậy; anh Nguyễn Đức Cảnh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điều 164, điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ điều 235, 264, 266, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn Tuyến.

2. Buộc anh Nguyễn Đức Cảnh phải có nghĩa vụ trả cho anh Bùi Văn Tuyến số tiền 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chưa thi hành án theo quy định tại điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30, Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: anh Nguyễn Đức Cảnh phải chịu 57.000.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh Bùi Văn Tuyến 28.500.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2017/0004149, ngày 07/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc niêm yết bản án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ