vanban.org

Bản án 07/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.

Buộc bà Mai Thị L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại Đ do Ngân hàng thương mại Đ – chi nhánh A đại diện nhận số tiền tổng cộng vốn lãi 15.103.666 đồng (mười lăm triệu một trăm lẻ ba ngàn sáu trăm sáu mươi sáu đồng). Bà Mai Thị L còn phải chịu lãi phát sinh theo giấy đăng ký vay tiền trả góp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 07/2021/DS-ST
Ngày: 03/02/2021
V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đức

2. Ông Diệp Thị Thu Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: Ông Bùi Ngọc Hương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 131/2020/TLST-DS ngày 01/10/2020 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2020/QĐXXST-DS ngày 22/12/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11A/2021/qĐST-DS ngày 08/01/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.

Trụ sở chính: số 13 Phan Đăng Lưu, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc V, chức vụ: Nhân viên Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh A.

- Bị đơn: Bà Mai Thị L, sinh năm 1979

Địa chỉ: ấp Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Khánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Việt có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà L vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 22/7/2020, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ trình bày:

Vào ngày 06/9/2013, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – chi nhánh An Giang có giải quyết cho bà Mai Thị L vay tín chấp liên kết Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Khánh số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn 24 tháng, mục đích cho vay tiêu dùng. Tính đến ngày 19/6/2020 bà L chỉ trả được cho ngân hàng 15.000.000 đồng trong đó tiền vốn 11.770.000 đồng và tiền lãi 3.230.000 đồng. Nhân viên ngân hàng đã làm việc, đôn đốc, nhắc nhở với bà L nhiều lần nhưng đến nay bà L vẫn chưa thanh toán được khoản nợ trên.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu bà Mai Thị L phải trả số tiền tổng cộng vốn lãi tạm tính đến ngày 03/02/2021 (theo bảng tính lãi hồ sơ vay ngân hàng ngày 22/01/2021) là 15.103.666 đồng (trong đó tiền vốn 8.230.000 đồng, lãi trong hạn 570.000 đồng, lãi quá hạn 6.303.666 đồng)

- Về phía bị đơn bà Mai Thị L: Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho bà L nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay bà L vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:

Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng mối quan hệ pháp luật, thụ lý và giải quyết đúng theo quy định tại Điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên cần xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng mới chính xác do đây là tranh chấp giữa một bên là tổ chức tín dụng hoạt động theo quy định của luật các tổ chức tín dụng và một bên là cá nhân (không điều chỉnh lãi suất).

Quá trình thụ lý hồ sơ Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo Điều 203 và Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị đơn đã được triệu tập hợp L nhưng vắng mặt không lý do tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng nên đã từ bỏ quyền của mình.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.

Buộc bị đơn Mai Thị L có trách nhiệm trả cho ngân hàng số tiền tổng cộng vốn lãi là 15.103.666 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ giấy đăng ký vay tiền trả góp ngày 22/8/2013 và danh sách cho vay trả góp giải ngân bằng tiền mặt ngày 06/9/2013 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – chi nhánh A với bà Mai Thị L thể hiện nội dung: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – chi nhánh A có cho bà L vay số tiền 20.000.000 đồng, mục đích vay là tiêu dùng nên xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện và biên bản xác minh về việc đăng ký thường trú ngày 01/10/2020 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Bị đơn bà Mai Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp L nhưng vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L.

Về nội dung: Theo giấy đăng ký vay tiền trả góp ngày 22/8/2013 và danh sách cho vay trả góp giải ngân bằng tiền mặt ngày 06/9/2013 do Ngân hàng thương mại cổ phần Đ cung cấp có đủ cơ sở để xác định bà Mai Thị L có vay của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - chi nhánh A số tiền là 20.000.000 đồng, thời hạn vay 24 tháng, mục đích vay để tiêu dùng, lãi suất là 9,5%/năm. Theo nguyên đơn thì từ khi vay đến nay bà L chỉ trả được tiền vốn 11.770.000 đồng và tiền lãi 3.230.000 đồng, số còn lại đến nay vẫn chưa thanh toán. Hội đồng xét xử xét thấy, giao địch giữa ngân hàng và bà L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung các bên ký kết không trái với quy định của pháp luật do đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Việc bà L vay tiền nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận là đã vi phạm hợp đồng nên Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu bà L trả tiền tổng cộng vốn lãi là 15.103.666 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

Từ những phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn là phù hợp.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, được chấp nhận nên bà Nhơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án. Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Khoản 2 Điều 91, Điều 94 và khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Toà án

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.

Buộc bà Mai Thị L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại Đ do Ngân hàng thương mại Đ – chi nhánh A đại diện nhận số tiền tổng cộng vốn lãi 15.103.666 đồng (mười lăm triệu một trăm lẻ ba ngàn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).

Bà Mai Thị L còn phải chịu lãi phát sinh theo giấy đăng ký vay tiền trả góp ngày 22/8/2013 kể từ ngày 04/02/3021 cho đến khi thi hành án xong.

2. Về án phí:

Bà Mai Thị L phải chịu 755.183 đồng (bảy trăm năm mươi lăm ngàn một trăm tám mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm

Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí nên được hoàn lại 356.000 đồng (ba trăm năm mươi sáu ngàn đồng) do Ngân hàng thương mại Đ – chi nhánh A đại diện nhận tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, L phí Tòa án số 0003956 ngày 01/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Mai Thị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản tại nơi cơ trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ