- Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Tranh chấp bảo hiểm giữa ông E với công ty G"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn E đối với bị đơn Công ty TNHH G về việc: Tranh chấp Bảo hiểm xã hội.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 50 Luật Việc làm
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2020/LĐ-ST Ngày: 31-8-2020 V/v: Tranh chấp bảo hiểm xã hội |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Minh Hoàng – Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động thị xã T;
2. Ông Đào Văn Nô – Cán bộ hưu trí.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Trinh – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 22/2020/TLST-LĐ ngày 14 tháng 7 năm 2020 về việc: “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐXXST-LĐ ngày 13 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn E, sinh năm 1984; thường trú: Ấp C, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: Tổ 3, khu phố V, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH G; địa chỉ: Tổ 4, khu phố 7, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương;
Người đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Văn K, sinh năm 1976; địa chỉ thường trú: Xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; địa chỉ liên lạc: Tổ 4, khu phố 7, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 05/8/2020); xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn kh i kiện đ ngày 25 tháng 6 năm 2020 và trong quá tr nh giải quy t v án, nguyên đơn ông Phạm Văn E trình bày: Vào ngày 07 tháng 01 năm 2015, ông Phạm Văn E được Công ty TNHH G (trước đây là Công ty TNHH I) tuyển dụng vào làm việc. Đến tháng 10/2015, Công ty TNHH G (Sau đây viết tắt là Công ty G) và ông E ký kết Hợp đồng lao động số 100884/2015/HĐLĐ-ITN với thời hạn 01 năm kể từ ngày ký hợp đồng, mức lương cơ bản theo hợp đồng là 3.400.000 đồng/tháng. Sau đó ông E tiếp tục làm việc đến hết tháng 02/2018 với mức lương cơ bản 4.259.000 đồng/tháng.
Do Công ty G thường xuyên thanh toán lương hàng tháng chậm nên tháng 02/2018, ông E đã nộp đơn xin nghỉ việc và được Công ty G đồng ý. Trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng, hàng tháng Công ty G đều trích một phần lương của ông E để đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, đến nay ông E đã nhiều lần yêu cầu Công ty G phải thực hiện việc chốt sổ bảo hiểm xã hội và trả lại sổ bảo hiểm cho ông E để ông đăng ký hưởng bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội nhưng Công ty G không thực hiện.
Nhận thấy việc Công ty TNHH G không thực hiện việc chốt sổ bảo hiểm xã hội và trả sổ bảo hiểm xã hội cho ông E là xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của ông, do đó ông Phạm Văn E khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH G phải thực hiện việc đóng đầy đủ tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và thực hiện việc chốt sổ bảo hiểm xã hội đối với thời gian ông Phạm Văn E làm việc tại Công ty để trả lại Sổ bảo hiểm xã hội cho ông E;
Tại phiên tòa ông Phạm Văn E vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không trình bày gì thêm.
- Ông Hoàng Văn K là người dại diện theo ủy quy n của bị đơn Công ty TNHH G trình bày: Thống nhất với toàn bộ lời trình bày của ông Phạm Văn E về thời gian làm việc, về việc ký kết và chấm dứt hợp đồng lao động giữa Công ty G với ông Phạm Văn E. Mức lương cơ bản của ông E theo hợp đồng lao động là 3.400.000 đồng/thángvà sau đó là 4.259.000 đồng/tháng cùng với các quyền lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế…
Hiện nay, Công ty G đang gặp nhiều khó khăn về tài chính nên sau khi ông E nghỉ việc tại Công ty G đến nay thì do Công ty G chưa chốt được sổ bảo hiểm xã hội cho ông E nên chưa trả sổ bảo hiểm xã hội cho ông E được. Nay ông E khởi kiện ra Tòa án thì bị đơn đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.
Vì lý do bận công việc, không có thời gian tham gia tố tụng nên ông Hoàng Văn Khuyến có đơn đề nghị Toà án xét xử vụ án vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T tham gia phiên toà phát biểu quan điểm như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Phạm Văn E khởi kiện bị đơn về việc yêu cầu bị đơn đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động – Bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật cho ông tại Cơ quan Bảo hiểm xã hội thị xã T, căn cứ điểm d khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp về lao động thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện. Công ty TNHH G có trụ sở chính phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã T, tỉnh Bình Dương.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung tranh chấp:
Vào ngày 07 tháng 01 năm 2015, ông Phạm Văn E được Công ty TNHH G (trước đây là Công ty TNHH I) tuyển dụng vào làm việc. Đến tháng 10/2015, Công ty TNHH G (Sau đây viết tắt là Công ty G) và ông E ký kết Hợp đồng lao động số 100884/2015/HĐLĐ-ITN với thời hạn 01 năm kể từ ngày ký hợp đồng, mức lương cơ bản theo hợp đồng là 3.400.000 đồng/tháng. Sau đó ông E tiếp tục làm việc đến hết tháng 02/2018 với mức lương cơ bản 4.259.000 đồng/tháng.
Do Công ty G thường xuyên thanh toán lương hàng tháng chậm nên tháng 02/2018, ông E đã nộp đơn xin nghỉ việc và được Công ty G đồng ý. Trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng, hàng tháng Công ty G đều trích một phần lương của ông E để đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, đến nay ông E đã nhiều lần yêu cầu Công ty G phải thực hiện việc chốt sổ bảo hiểm xã hội và trả lại sổ bảo hiểm cho ông E để ông đăng ký hưởng bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội nhưng Công ty G không thực hiện. Xét thấy, việc hai bên ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng quy định của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử xác định Hợp đồng lao động số 100884/2015/HĐLĐ-ITN giữa ông Phạm Văn E và Công ty G có giá trị thực hiện.
Ông E cho rằng do Công ty G thường xuyên thanh toán lương hàng tháng chậm nên tháng 02/2018, ông E đã nộp đơn xin nghỉ việc và được Công ty G đồng ý. Tại bản tự khai ngày 05/8/2020, đại diện bị đơn thừa nhận tình tình sản xuất của công ty gặp khó khăn nên công ty có cho ông E thôi việc theo đơn xin thôi việc của ông. Xét lời thừa nhận của đại diện bị đơn là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó có căn cứ xác định giữa hai bên đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.
Tuy nhiên, sau khi hai bên chấm dứt hợp đồng lao động Công ty G vẫn không đóng đầy đủ, đúng quy định các loại bảo hiểm bắt buộc cho ông E là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.
Theo Công văn số 214/CV-BHXH ngày 17/8/2020 của Bảo hiểm xã hội thị xã T thể hiện: Ông Phạm Văn E được Công ty TNHH G đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn tại Bảo hiểm xã hội thị xã T từ tháng 10/2015 đến tháng 3/2018. Tại thời điểm ông E nghỉ việc đến nay, Công ty TNHH G chưa lập hồ sơ, thủ tục gửi về cơ quan Bảo hiểm xã hội thị xã T để chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông E.
Xét thấy, Công ty G đã đăng ký đóng bảo hiểm cho ông E tại Cơ quan Bảo hiểm xã hội thị xã T và đã trích thu nhập hằng tháng của ông E nhưng không đóng đầy đủ, đúng quy định các loại bảo hiểm bắt buộc cho người lao động là không làm đúng trách nhiệm của người sử dụng lao động được quy định tại khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và là hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại khoản 1, 2 Điều 17 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Do đó việc ông E khởi kiện Công ty G là có căn cứ chấp nhận.
kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp.
Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí lao động sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ các Điều 31, 33, 35, 80, 131, 202, 219, 238, 243 và 245 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 47 và 202 của Bộ luật Lao động;
- Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 50 Luật Việc làm năm 2013;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn E đối với bị đơn Công ty TNHH G về việc: Tranh chấp Bảo hiểm xã hội.
2. Công ty TNHH G phải thực hiện các nghĩa vụ đối với ông Phạm Văn E cụ thể như sau:
- Công ty TNHH G phải đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp cho ông Phạm Văn E theo quy định của pháp luật thời gian tính từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 03 năm 2018.
- Sau khi thực hiện xong việc đóng bảo hiểm xã hội, Công ty TNHH G có trách nhiệm hoàn thành thủ tục chốt sổ bảo hiểm xã hội để trả lại sổ Bảo hiểm xã hội cho ông Phạm Văn E.
3. Về án phí:
- Ông Phạm Văn E không phải nộp án phí lao động sơ thẩm.
- Công ty TNHH G phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí lao động sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã T; - CCTHADS thị xã T; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Tâm |