- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Ngô Thanh P, Trương Thị Bích T, Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2020/HSST Ngày: 22 – 01 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Hải
Ông Nguyễn Đình Đoan Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn – Kiểm sát viên.
Các ngày 14, 20, 22 tháng 01 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Ngô Thanh P (T), sinh năm 1997, tại Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ Z, Khóm M, thị trấn T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Minh T và bà Nguyễn Thị X; Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: Ngày 30/7/2019; Tạm giam: Ngày 08/8/2019.
2. Họ và tên: Trương Thị Bích T (N), sinh năm 1997, tại Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ D, Ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn M và bà Hà Thị K; Gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bắt tạm giam: Ngày 22/10/2019.
3. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1995, tại Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp N, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị Lệ B; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 3trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/9/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 26/8/2016; Tạm giữ: Ngày 28/6/2019; Tạm giam: Ngày 07/7/2019.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
1. Ngô Triệu V, sinh năm 1999; Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)
2. Nguyễn Đình N, sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ Z, Khóm E, Phường E, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)
3. Lê Văn Cảnh, sinh năm 1993; Địa chỉ: Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 27/6/2019, Ngô Thanh P đang ở nhà bạn gái là Trương Thị Bích Thủy tại số Z, Tổ D, Ấp C, xã M, thành phố C, thì có người tên V (không rõ nhân thân) điện thoại hỏi mua 500.000đ ma túy, P đồng ý. Lúc này Nguyễn Văn Đ cùng bạn gái là Lê Hồng A, đến nhà T chơi. P và Đ sử dụng ma túy được một lúc, P kêu Đ đi giao ma túy dùm thì Đ đồng ý. P đưa một gói thuốc lá hiệu Jet bên trong chứa ma túy kêu Đ đem ma túy đến ngã tư đường Trần Hưng Đ và Lê Thị R giao cho một người thanh niên đợi sẵn, P nói người đó đưa bao nhiêu tiền lấy bấy nhiêu. Sau khi nhận ma túy, Đ điều khiển xe mô tô biển số 66FA-9325 đến đoạn đường Trần Hưng Đ thuộc Tổ Z, Khóm C, Phường A, thành phố C thì có một thanh niên chạy xe song song theo và hỏi Đ “Bạn có phải là bạn của Tý (P) phải không”, “Có giao ma túy không”. Lúc này Đ biết đây là người thanh niên hỏi mua ma túy của P. Khi Đ chuẩn bị giao ma túy thì phát hiện Công an nên ném bỏ gói thuốc lá Jet bên trong có chứa ma túy xuống đường nên bị Công an bắt quả tang cùng tang vật.
Khi bắt quả tang, thu giữ tại hiện trường: 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong trong Phong bì ghi ký hiệu “A1”; 01 (một) gói thuốc lá hiệu Jet, bên trong có chứa 01 (một) đoạn ống hút màu xanh trắng được cắt xéo một đầu và 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín một đầu bên trong không chứa gì; 01 (một) xe mô tô biển số 66FA-9325, số máy C50E-9712025.
Tại Kết luận giám định số 520/KL-KTHS ngày 30/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong Phong bì ghi ký hiệu “A1” gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,325 gam, loại Methamphetamine. Tinh thể rắn còn lại sau giám định có khối lượng 0,271 gam được niêm phong ký hiệu số 521 ngày 28/6/2019 có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Đồng Tháp”.
Khi tiến hành kiểm tra chỗ ở của Ngô Thanh P và Trương Thị Bích T tại số Z, Tổ D, Ấp C, xã M, thành phố C, thu giữ tang vật:
Kệ gỗ hai tầng, sát vách tường của phòng ngủ: 01 rổ nhựa màu vàng bên trong có: 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ, bên trong chứa bịch nylon màu trắng, hàn kín, chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng, niêm phong ký hiệu “A1” (T khai là ma túy của P); 02 cây kéo bằng kim loại, màu trắng; 01 bịch nylon màu trắng hàn kín ba cạnh; 01 rổ nhựa màu xanh bên trong chứa: 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng, niêm phong ký hiệu “A2” (T khai là ma túy của P); 04 đoạn ống hút màu trắng xanh, được cắt xéo một đầu; 01 nắp nhựa màu đen có khoét hai lỗ tròn; 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có một đoạn ống hút màu trắng, một đầu hàn kín, một đầu cắt xéo; 01 bình nhựa có nắp màu hồng, trên nắp có khoét hai lỗ tròn, một lỗ gắn một đoạn ống hút màu xanh, một lỗ gắn với nỏ thủy tinh. Bên trong nỏ thủy tinh dính chất rắn màu nâu (T khai là ma túy) được niêm phong ký hiệu “A3”; 01 hộp hình chữ nhật, màu đen, bên trong có 01 điện thoại hiệu Nokia, màu đen và 01 điện thoại hiệu Masstel, màu đen; 01 bật lửa tự chế có gắn một ống kim loại; 01 bình gas hiệu GOOD BUTANE; 01 hộp hình chữ nhật màu đen, bên trong chứa: 05 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ và 03 bịch nylon màu trắng, hàn kín ba cạnh.
Trên vách phòng ngủ: 01 hộp hình chữ nhật màu vàng, bên trong có: 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp có viền màu đỏ, bên trong chứa một đoạn ống hút màu vàng đỏ, một đầu hàn kín, một đầu được cắt xéo; 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ, bên trong chứa: 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ và 01 cân điện tử màu trắng đen, có ghi dòng chữ “AOSAI”.
Thu trên nệm trong phòng ngủ: 01 điện thoại hiệu IVVI, màu vàng.
Kết luận giám định số 522/KL-KTHS ngày 30/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, đựng trong bịch nylon dạng nắp kẹp một đầu có viền màu đỏ, được niêm phong trong Phong bì ghi ký hiệu “A1” gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 1,000 gam, loại Methamphetamine. Tinh thể rắn còn lại sau giám định có khối lượng 0,882 gam được niêm phong trong Phong bì ký hiệu số 523/1 ngày 28/6/2019. Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong Phong bì ghi ký hiệu “A2” gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 1,794 gam, loại Methamphetamine. Tinh thể rắn còn lại sau giám định có khối lượng 1,733 gam được niêm phong trong Phong bì ký hiệu số 523/2 ngày 28/6/2019. Chất rắn màu nâu dính bên trong nỏ thủy tinh, được niêm phong trong Phong bì ký hiệu “A3” gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu ít. Nỏ thủy tinh được niêm phong trong Phong bì ghi ký hiệu số 522 ngày 30/6/2019, đóng dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sau khi tiến hành đối chất giữa Trương Thị Bích T và người làm chứng Nguyễn Đình N, Lê Văn C, Ngô Triệu V xác định được T bán trái phép chất ma túy cho 02 người, 03 lần, thu lợi 700.000 đồng, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 19 giờ 30 phút, một ngày giữa tháng 6 năm 2019, Nguyễn Đình N, sinh năm 1987, ngụ khóm E, phường E, thành phố C, sử dụng số 0948.903.132 gọi vào số 0794.212.486 của P hỏi mua 200.000 đồng ma túy. Lúc này T nghe điện thoại, đồng ý bán và hẹn giao dịch tại khu vực phía sau Bệnh viện Đ. N đến điểm hẹn gặp T, T đưa cho N 01 tép ma túy và nhận 200.000 đồng, có được tiền, T tiêu xài cá nhân hết.
Lần 2: Khoảng 18 giờ ngày 26/6/2019, Ngô Triệu V đến hỏi P mua thiếu một bịch ma túy giá 500.000 đồng. P bảo V vào gặp T, nếu T đồng ý bán thì P đồng ý. T đồng ý bán và vào phòng ngủ chiết ra lượng ma túy tương đương với số tiền 500.000 đồng đưa cho V.
Lần 3: Khoảng 09 giờ ngày 27/6/2019, T ở nhà một mình thì V đến trả 500.000 đồng tiền mua ma túy thiếu hôm trước. Sau đó V đi về, khoảng 15 phút sau V quay trở lại hỏi mua thiếu 900.000 đồng ma túy. T đồng ý và vào phòng ngủ chiết ra lượng ma túy tương ứng với số tiền 900.000 đồng đưa cho V, V nhận ma túy và hứa chiều cùng ngày sẽ trả tiền.
Ngày 30/7/2019 Cơ quan điều tra thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Ngô Thanh P, đã thu giữ:
Gần vị trí P đứng 01 bịch nylon hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng bên ngoài được quấn băng keo màu đen, được niêm phong trong Phong bì ký hiệu “A1” (P khai đây là ma túy của P); 900.000 đồng; 01 điện thoại Samsung màu vàng đen, màn hình bị nứt.
Tại Kết luận giám định số 620/KL-KTHS ngày 01/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong Phong bì ghi ký hiệu “A1” gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,318 gam, loại Methamphetamine. Tinh thể rắn còn lại sau giám định có khối lượng 0,258 gam được niêm phong trong Phong bì ký hiệu số 638 ngày 31/7/2019.
Ngô Thanh P khai nhận số ma túy trên là P đem đổi con gà tương đương số tiền 400.000 đồng cho người tên NA (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể). Tuy nhiên, quá trình điều tra chỉ thu thập được duy nhất lời khai của P, không làm việc được với NA, vì vậy không đủ căn cứ chứng minh P có bán ma túy cho NA.
Qua điều tra xác định, Ngô Thanh P còn 02 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Đình N, thu lợi 800.000 đồng, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 12 giờ, một ngày trong tháng 6 năm 2019, N sử dụng số 0948.903.132 gọi vào số 0794.212.486 của P hỏi mua 400.000 đồng ma túy, P đồng ý và hẹn giao dịch tại gần chợ T, thuộc phường E, thành phố C. Đến điểm hẹn, N đưa cho P 400.000 đồng, P nhận tiền và đưa cho N tép ma túy. Có được tiền, P tiêu xài cá nhân hết.
Lần 2: Khoảng 17 giờ, cách lần 01 khoảng 03 ngày, tương tự như lần 1, N điện thoại cho P hỏi mua 400.000 đồng ma túy, P đồng ý và hẹn giao dịch tại gần Bệnh viện Đháp. Đến điểm hẹn, N đưa cho P 400.000 đồng, P nhận tiền và đưa cho N tép ma túy. Có được tiền, P tiêu xài cá nhân hết.
Tại phiên tòa, các bị cáo Ngô Thanh P, Trương Thị Bích T và Nguyễn Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, biên bản mở niêm phong, kết luận giám định kỹ thuật hình sự, biên bản xét nghiệm tình trạng nghiện ma túy, biên bản và bản ảnh nhận dạng, biên bản và bản ảnh kiểm tra điện thoại của P, lời khai của người mua ma túy V, N, lời khai của người bán ma túy Lê Văn C. Về nguồn gốc số ma túy mà P và T có được là mua từ Lê Văn C vào khoảng 17 giờ ngày 26/6/2019, P và T hùn tiền 3.800.000 đồng mua ma túy. Sau khi mua ma túy từ C, P và T chiết ra một ít để sử dụng còn lại bán để kiếm lời.
Đối với xe Honda C50 biển kiểm soát 66FA-9325 là tài sản của chị Nguyễn Thị Thu P, chị P không biết Đ mượn xe để sử dụng vào việc phạm tội, ngày 22/11/2019 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị P.
Đối với số tiền 900.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo P. Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án, ngày 22/11/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền trên cho bị cáo P.
Đối với 01 điện thoại hiệu Nokia, màu đen, 01 điện thoại hiệu Masstel, màu đen và 01 điện thoại hiệu IVVI, màu vàng là tài sản cá nhân của bị cáo T. Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án, ngày 22/11/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại các điện thoại trên cho bị cáo T. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo T khai nhận điện thoại Masstel bị cáo dùng để liên lạc với P và những người mua ma túy để giao dịch. Đồng thời, người nhà của T cũng đã giao nộp lại 01 điện thoại hiệu Masstel để xử lý theo quy định pháp luật (hiện điện thoại đã hư hỏng không còn sử dụng được).
Bản cáo trạng số 136/CT_VKSND_TPCL ngày 29-11-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp truy tố các bị cáo Ngô Thanh P, Trương Thị Bích T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ Luật hình sự; bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo Trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Ngô Thanh P, Trương Thị Bích T, Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 17, Điều 58, điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Thanh P với mức án từ 08 năm đến 09 năm tù, bị cáo Trương Thị Bích T với mức án từ 07 năm 06 tháng từ đến 08 năm 06 tháng tù; áp dụng Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung tiền đối với bị cáo Ngô Thanh P từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ, xử phạt bổ sung bị cáo Trương Thị Bích T từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Samsung màu vàng đen, màn hình bị nứt của bị cáo Ngô Thanh P dùng làm phương tiện liên lạc bán ma túy.
- Buộc P nộp lại 800.000 đồng, T nộp lại 700.000 đồng do bán trái phép ma túy mà có để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định, dụng cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị gồm: 05 (năm) Phong bì chứa chất ma túy còn lại sau giám định lần lượt ký hiệu niêm phong số 521, số 523/1 và 523/2 cùng ngày 28/6/2019, số 522 ngày 30/6/2019, số 638 ngày 31/7/2019 có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Đồng Tháp”; 02 cây kéo bằng kim loại, màu trắng (đã qua sử dụng); 01 bịch nylon màu trắng hàn kín ba cạnh (chưa qua sử dụng); 04 đoạn ống hút màu trắng xanh, được cắt xéo một đầu (đã qua sử dụng); 01 nắp nhựa màu đen có khoét hai lỗ tròn (đã qua sử dụng); 01 đoạn ống hút màu trắng, một đầu hàn kín, một đầu cắt xéo (đã qua sử dụng); 01 bình nhựa có nắp màu hồng, trên nắp có khoét hai lỗ tròn, một lỗ gắn một đoạn ống hút màu xanh; 01 hộp hình chữ nhật, màu đen; 01 bật lửa tự chế có gắn một ống kim loại (đã qua sử dụng); 01 bình gas hiệu GOOD BUTANE (đã qua sử dụng); 01 hộp hình chữ nhật màu đen, bên trong chứa: 05 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ và 03 bịch nylon màu trắng, hàn kín ba cạnh (tất cả chưa qua sử dụng); 01 hộp hình chữ nhật màu vàng, bên trong có: 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp có viền màu đỏ, bên trong chứa một đoạn ống hút màu vàng đỏ, một đầu hàn kín, một đầu được cắt xéo (đã qua sử dụng); 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ, bên trong chứa: 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 cân điện tử màu trắng đen, có ghi dòng chữ “AOSAI” (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút màu xanh trắng được cắt xéo một đầu; 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín một đầu bên trong không chứa gì; 01 (một) vỏ bao thuộc lá nhãn hiệu “JET”; 01 điện thoại hiệu Masstel màu đen, đã qua sử dụng, không mở nguồn được (không kiểm tra chất lượng bên trong) Thủy dùng làm phương tiện mua bán ma túy nay đã hư hỏng không sử dụng được.
Đối với Ngô Triệu V mua ma túy của T và P để sử dụng và bán lại kiếm lời, ngày 18/11/2019 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh tuyên phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Đối với Lê Văn C bán ma túy cho P, ngày 09/8/2019 đã bị Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh khởi tố bị can xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người tên V là người mua ma túy của Ngô Thanh P, do không xác định họ tên và địa chỉ cụ thể, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Đình N sử dụng ma túy, Cơ quan điều tra đã có Công văn chuyển hồ sơ đến Công an nơi cư trú xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo, quá trình đối chất tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong quá trình điều tra, truy tố, đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản đối chất, biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Ngô Thanh P, Trương Thị Bích T, Nguyễn Văn Đ có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cụ thể:
Ngô Thanh P bán ma túy 03 lần trong đó 01 lần bán cho V (không rõ nhân thân), 02 lần bán cho Nguyễn Đình N gồm: Ngày 27/6/2019, V gọi điện thoại cho P hỏi mua 500.000đ ma túy, P đồng ý và kêu Đ đi giao ma túy dùm Đ đồng ý. Khi Đ đến địa điểm hẹn giao ma túy tại đoạn đường Trần Hưng Đ thuộc Tổ Z, Khóm C, Phường A, thành phố C để giao ma túy thì bị bắt quả tang; Tháng 6/2019, N gọi điện thoại cho P hỏi mua 400.000đ ma túy, P đồng ý hẹn giao ma túy tại chợ T. Đến điểm hẹn P giao ma túy cho N và nhận tiền. Sau khi nhận tiền P tiêu xài cá nhân hết; Sau đó khoảng 03 ngày, N tiếp tục gọi điện cho P hỏi mua 400.000đ ma túy, P đồng ý, hẹn giao ma túy ở gần Bệnh viện Đ. Đến nơi hẹn, P giao ma túy cho N và nhận tiền. Sau khi nhận tiền P tiêu xài cá nhân hết.
Trương Thị Bích T bán ma túy 03 lần trong đó 01 lần bán cho Nguyễn Đình N, 02 lần bán cho Ngô Triệu V gồm: Tháng 6/2019, Nguyễn Đình N gọi điện thoại cho P hỏi mua 200.000đ ma túy. T nghe điện thoại, đồng ý bán ma túy cho N, hẹn giao dịch tại khu vực phía sau Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp. Đến điểm hẹn, T giao ma túy cho N và nhận tiền. Sau khi nhận tiền T tiêu xài cá nhân hết; Ngày 26/6/2019, Ngô Triệu V đến hỏi P mua thiếu ma túy giá 500.000đ, P kêu Vỹ vào gặp T. T đồng ý bán ma túy cho V và vào phòng ngủ chiết ra lượng ma túy tương đương 500.000đ cho V; Ngày 27/6/2019, V đến gặp T trả 500.000đ tiền mua thiếu ma túy. Sau đó, V quay lại gặp T và hỏi mua thiếu 900.000đ ma túy, T đồng ý và vào phòng ngủ chiết ma túy giao cho V.
Nguyễn Văn Đ giúp sức cho P bán ma túy 01 lần cho V ngày 27/6/2019.
Do đó, hành vi của các bị cáo Ngô Thanh P, Trương Thị Bích T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý" tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự . Việc truy tố và xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi của các bị cáo gây ra.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma túy và gây mất trật tự trị an tại địa phương, tội phạm mua bán ma túy là nguyên nhân của những tệ nạn khác gây nhiều hệ lụy xấu cho toàn xã hội. Các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vì tham lợi nhuận các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, cần phải áp dụng cho các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời, cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét đến vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Ngô Thanh P là người trực tiếp đi mua ma túy về để chiết nhỏ ra bán lại thu lợi nhuận nên giữ vai trò chủ mưu, thực hiện; Trương Thị Bích T thực hiện hành vi mua bán ma túy do P mua về nên giữ vai trò thực hiện; Nguyễn Văn Đ đồng ý đi giao ma túy dùm cho P nên giữ vai trò giúp sức.
Về hình phạt bổ sung:
Các bị cáo Ngô Thanh P, Trương Thị Bích T thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích lợi nhuận. Áp dụng Điều 35 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, cần xử phạt bổ sung các bị cáo Ngô Thanh P, Trương Thị Bích T tiền để nộp ngân sách nhà nước.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Samsung màu vàng đen, màn hình bị nứt của bị cáo Ngô Thanh P dùng làm phương tiện liên lạc bán ma túy.
- Buộc P nộp lại 800.000 đồng, T nộp lại 700.000 đồng do bán trái phép ma túy mà có để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định, dụng cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị gồm: 05 (năm) Phong bì chứa chất ma túy còn lại sau giám định lần lượt ký hiệu niêm phong số 521, số 523/1 và 523/2 cùng ngày 28/6/2019, số 522 ngày 30/6/2019, số 638 ngày 31/7/2019 có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Đồng Tháp”; 02 cây kéo bằng kim loại, màu trắng (đã qua sử dụng); 01 bịch nylon màu trắng hàn kín ba cạnh (chưa qua sử dụng); 04 đoạn ống hút màu trắng xanh, được cắt xéo một đầu (đã qua sử dụng); 01 nắp nhựa màu đen có khoét hai lỗ tròn (đã qua sử dụng); 01 đoạn ống hút màu trắng, một đầu hàn kín, một đầu cắt xéo (đã qua sử dụng); 01 bình nhựa có nắp màu hồng, trên nắp có khoét hai lỗ tròn, một lỗ gắn một đoạn ống hút màu xanh; 01 hộp hình chữ nhật, màu đen; 01 bật lửa tự chế có gắn một ống kim loại (đã qua sử dụng); 01 bình gas hiệu GOOD BUTANE (đã qua sử dụng); 01 hộp hình chữ nhật màu đen, bên trong chứa: 05 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ và 03 bịch nylon màu trắng, hàn kín ba cạnh (tất cả chưa qua sử dụng); 01 hộp hình chữ nhật màu vàng, bên trong có: 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp có viền màu đỏ, bên trong chứa một đoạn ống hút màu vàng đỏ, một đầu hàn kín, một đầu được cắt xéo (đã qua sử dụng); 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ, bên trong chứa: 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 cân điện tử màu trắng đen, có ghi dòng chữ “AOSAI” (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút màu xanh trắng được cắt xéo một đầu; 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín một đầu bên trong không chứa gì; 01 (một) vỏ bao thuộc lá nhãn hiệu “JET”; 01 điện thoại hiệu Masstel màu đen, đã qua sử dụng, không mở nguồn được (không kiểm tra chất lượng bên trong) Thủy dùng làm phương tiện mua bán ma túy nay đã hư hỏng không sử dụng được.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Đối với Ngô Triệu V mua ma túy của Thủy và P để sử dụng và bán lại kiếm lời, ngày 18/11/2019 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh tuyên phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đối với Lê Văn C bán ma túy cho P, ngày 09/8/2019 đã bị Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh khởi tố bị can xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với người tên V là người mua ma túy của Ngô Thanh P, do không xác định họ tên và địa chỉ cụ thể, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau. Đối với Nguyễn Đình N sử dụng ma túy, Cơ quan điều tra đã có Công văn chuyển hồ sơ đến Công an nơi cư trú xử lý theo quy định của pháp luật. Những người nêu trên đã được xử lý theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Ngô Thanh P, Trương Thị Bích T, Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, Điều 17, Điều 58, Điều 35, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Thanh P 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 30/7/2019.
Phạt bổ sung bị cáo Ngô Thanh P số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Trương Thị Bích T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 22/10/2019.
Phạt bổ sung bị cáo Trương Thị Bích T số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào khoản khoản 1 Điều 251, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 28/6/2019.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Samsung màu vàng đen, màn hình bị nứt của bị cáo Ngô Thanh P dùng làm phương tiện liên lạc bán ma túy.
Buộc P nộp lại 800.000 đồng, T nộp lại 700.000 đồng do bán trái phép ma túy mà có để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định, dụng cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị gồm: 05 (năm) Phong bì chứa chất ma túy còn lại sau giám định lần lượt ký hiệu niêm phong số 521, số 523/1 và 523/2 cùng ngày 28/6/2019, số 522 ngày 30/6/2019, số 638 ngày 31/7/2019 có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Đồng Tháp”; 02 cây kéo bằng kim loại, màu trắng (đã qua sử dụng); 01 bịch nylon màu trắng hàn kín ba cạnh (chưa qua sử dụng); 04 đoạn ống hút màu trắng xanh, được cắt xéo một đầu (đã qua sử dụng); 01 nắp nhựa màu đen có khoét hai lỗ tròn (đã qua sử dụng); 01 đoạn ống hút màu trắng, một đầu hàn kín, một đầu cắt xéo (đã qua sử dụng); 01 bình nhựa có nắp màu hồng, trên nắp có khoét hai lỗ tròn, một lỗ gắn một đoạn ống hút màu xanh; 01 hộp hình chữ nhật, màu đen; 01 bật lửa tự chế có gắn một ống kim loại (đã qua sử dụng); 01 bình gas hiệu GOOD BUTANE (đã qua sử dụng); 01 hộp hình chữ nhật màu đen, bên trong chứa: 05 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ và 03 bịch nylon màu trắng, hàn kín ba cạnh (tất cả chưa qua sử dụng); 01 hộp hình chữ nhật màu vàng, bên trong có: 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp có viền màu đỏ, bên trong chứa một đoạn ống hút màu vàng đỏ, một đầu hàn kín, một đầu được cắt xéo (đã qua sử dụng); 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ, bên trong chứa: 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 cân điện tử màu trắng đen, có ghi dòng chữ “AOSAI” (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút màu xanh trắng được cắt xéo một đầu; 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín một đầu bên trong không chứa gì; 01 (một) vỏ bao thuộc lá nhãn hiệu “JET”; 01 điện thoại hiệu Masstel màu đen, đã qua sử dụng, không mở nguồn được (không kiểm tra chất lượng bên trong) Thủy dùng làm phương tiện mua bán ma túy nay đã hư hỏng không sử dụng được.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Ngô Thanh P, Trương Thị Bích T, Nguyễn Văn Đ, mỗi người phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - VKSND TPCL; - VKDND tỉnh Đồng Tháp; - CQĐT Công an TPCL; - CQTHAHS Công an TPCL; - Trại tạm giam CA tỉnh ĐT; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Thanh Thảo |