vanban.org

Bản án 07/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 15/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/5/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Thương - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH LINH
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2020/HS-ST
Ngày 15/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vĩnh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thiều Quang An.

2. Ông Nguyễn Viết Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2020, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Thôn D, xã V, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn S (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1948; Có vợ là Hồ Thị N, sinh năm 1975, có 04 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Linh. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hạ i: Ông Lê Văn H, sinh năm 1973.

Trú tại: Thôn T, xã H, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. (Đã chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại ông Lê Văn H.

1. Ông Lê Văn D, sinh năm 1935. (Bố đẻ của người bị hại).

2. Bà Phạm Thị Định, sinh năm 1944 (Mẹ đẻ của người bị hại).

3. Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1977 (Vợ của người bị hại).

Đều trú tại: Thôn T, xã H, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị.

Do bà Nguyễn Thị Kim A đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 29/10/2019)

4. Cháu Lê Văn N, sinh năm 2006 (Con đẻ của người bị hại).

5. Cháu Lê Văn Q, sinh năm 2009 (Con đẻ của người bị hại).

Đều trú tại: Thôn T, xã H, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị .

Người giám hộ của cháu Lê Văn Q và Lê Văn N: Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm: 1977 (là mẹ đẻ).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Trần Xuân T, sinh năm 1975.

Trú tại: Khu phố An Đức 3, thị trấn Cửa Tùng, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị. Vắng mặt không có lý do.

- Người làm chứng:

1. Cháu Lê Văn Q, sinh năm 2009.

Trú tại: Thôn T, xã H, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị . Vắng mặt có đơn xin.

Người giám hộ của cháu Lê Văn Q: Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm: 1977 (là mẹ đẻ)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/10/2019, Trần Văn T không có bằng lái xe mô tô theo quy định, điều khiển xe mô tô BKS 74F1 - 2408 dung tích xi lanh 97cm3 di chuyển trên đường ĐT 574 hướng Quốc lộ 1A đi thị trấn Cửa Tùng. Khi đi đến đoạn KM4 + 560m thuộc địa phận Thôn T, xã H do bị ánh đèn chiếu xa của xe mô tô đi ngược chiều, bị cáo cúi đầu xuống để nhìn đường làm gương mũ bảo hiểm gập xuống làm ảnh hưởng đến việc xử lý tay lái nên đã đi lấn vào phần đường ngược chiều, tông vào xe BKS 74K1 8735 do anh Lê Văn H điều khiển chở theo cháu Lê Văn Q. Hậu quả làm anh Lê Văn H bị thương nặng phải đưa đi cấp cứu và chết vào ngày 24/10/2019 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị, 02 xe mô tô bị hư hỏng.

Theo Kết luận giám định số 874/KLGĐ-PC09 ngày 14/11/2019 “Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô BKS 74F1 2408 và xe mô tô BKS 74K1 8735 là phần trước bên trái xe mô tô BKS 74F1 2408, gồm các vị trí: phuộc trước, giá gắn giỏ xe, nắp nhựa trước tay lái, đèn tín hiệu chuyển hướng, tay cầm lái va chạm với phần trước bên trái xe mô tô BKS 74K1 8735 gồm các vị trí: Má lốp, bánh trước, cánh mang, đèn tín hiệu chuyển hướng, tay cầm lái. “Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô BKS 74F1 2408 và xe mô tô BKS 74K1 8735 trên hiện trường là khu vực phía trước điểm đầu dấu vết số (3), (4) được mô tả và ghi nhận trong hồ sơ khám nghiệm thuộc phần đường theo chiều đi từ Cửa Tùng đến Quốc lộ 1A”.

Theo Kết luận giám định số 861/KLGĐ-PC09 ngày 09/11/2019 của Phòng PC 09 Công an tỉnh Quảng Trị nguyên nhân chết của ông Lê Văn H do đa chấn thương, với các kết quả chính: “gãy phức tạp xương sọ mặt, dập não, xuất huyết rộng trán hai bên, xuất huyết dưới nhện hai bán cầu, tụ máu dưới màng cứng lớp mỏng hai bên, gãy xương sườn 01 hai bên, tổn thương phổi hít hai bên”.

Về dân sự: Bị cáo và đại diện của người bị hại đã tự nguyện thỏa thuận, bị cáo bồi thường cho phía người bị hại tổng số tiền 217.000.000 đồng, các bên đã giao nhận đủ và không có ý kiến gì khác.

Cáo trạng số 08/ 2020/CT-VKS ngày 19/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh truy tố Trần Văn T về tội: “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo nói lời sau cùng thể hiện thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có đông con, bố mẹ già yếu, là lao động chính trong gia đình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện lao động chăm sóc gia đình.

Đại diện của người bị hại trình bày: Sau khi tai nạ n xả y ra bị cáo đã chủ động thăm hỏi, bồi thường đầy đủ theo yêu cầu thể hiện sự ăn năn, hối cãi, hậu quả xảy ra do lỗi vô ý nằm ngoài mong muốn của bất kỳ ai, chính vì vậy bà đề nghị Hội đồng xét xử lưu ý hoàn cảnh, nhân thân của bị cáo, giảm nhẹ đến mức thấp nhất hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thương từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 30-36 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không tham gia tranh luận gì với quan điểm của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo, người làm chứng tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/10/2019, Trần Văn T không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, điều khiển xe mô tô BKS 74F1 2408 có dung tích xi lanh 97cm3 di chuyển trên đường ĐT 574 hướng Quốc lộ 1A đi thị trấn Cửa Tùng. Khi đi đến đoạn đường KM4 + 560m thuộc địa phận Thôn T, xã H do không làm chủ được tốc độ đồng thời bị ánh đèn chiếu xa của xe đi ngược chiều (xe do bị hại điều khiển) làm chói mắt nên bị cáo bị mất phương hướng điều khiển xe đi lấn sang làn đường bên trái, tông vào xe BKS 74K1 8735 do anh Lê Văn H điều khiển chở theo cháu Lê Văn Q. Hậu quả làm anh Lê Văn H chết vào ngày 24/10/2019 khi đang cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị, xe mô tô BKS 74K1 2435 bị hư hỏng thiệt hại trị giá bằng tiền là 570.400 đồng.

Bị cáo không có giấy phép lái xe, điều khiển xe môtô có dung tích xi lanh 97cm3 tham gia giao thông là hành vi bị nghiêm cấm; vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô BKS 74F1 2408 và xe mô tô BKS 74K1 8735 trên hiện trường thuộc phần đường bên phải theo chiều đi từ Cửa Tùng đến Quốc lộ 1A. Như vậy bị cáo đã điều khiển xe lấn sang làn đường của xe ngược chiều đồng thời khi lưu thông trên đường không phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt bị cáo đã không giảm tốc độ khi có xe đi ngược chiều tránh nhau là vi phạm các quy định tại khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết 01 người. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh truy tố và đề nghị xét xử bị cáo theo các điểm, khoản, điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, an toàn và lưu thông của các phương tiện trên đường, tính mạng, sức khoẻ của người tham gia giao thông, gây đau thương, mất mát cho gia đình người bị nạn, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho mọi người khi tham gia giao thông. Vì vậy, cần có một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Đối với hành vi tham gia giao thông của người bị hại: người bị hại có giấy phép lái xe, đi đúng phần đường theo quy định. Tại khoản 1, 3 Điều 17 Luật giao thông đường bộ quy định khi đi trên đường không phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, hai xe đi ngược chiều tránh nhau, người tham gia giao thông phải giảm tốc độ đồng thời không được sử dụng đèn chiếu xa khi đi ngược chiều gặp nhau. Tuy nhiên qua Biên bản khám nghiệm phương tiện, lời khai của người làm chứng thể hiện người bị hại đã không thực hiện đúng các quy tắc an toàn này, hậu quả nghiêm trọng xảy ra có một phần quan hệ nhân quả từ hành vi tham gia giao thông vi phạm quy tắc an toàn của người bị hại.

Về nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong giai đoạn điều tra bị cáo đã chủ động thỏa thuận và tự nguyện bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nhận rõ lỗi của mình, bố mẹ của bị cáo đều là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương, đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo khi lượng hình là đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vì vậy cần áp dụng quy định tại điều 54 BLHS quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo. Nguyên nhân xảy ra tai nạn có một phần lỗi của người bị hại, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình, chính quyền địa phương có văn bản xác nhận nhân thân tốt, ngoài hành vi vi phạm này bị cáo có thái độ chấp hành pháp luật nghiêm túc và đề nghị cho bị cáo được giáo dục tại địa phương cho thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xét thấy cần thiết áp dụng chế độ nhân đạo, khoan hồng quy định tại điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo cùng đại diện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường đủ số tiền 217.000.000 đồng, Bà A đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác về dân sự cho nên không xem xét giải quyết.

Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra đã thu giữ xe mô tô BKS 74K1 8735 đứng tên sở hữu Lê Văn H, Giấy đăng ký xe mô tô, Giấy chứng nhận bảo hiểm, Giấy phép lái xe của anh Lê Văn H, đây là tài sản chung của vợ chồng người bị hại và bà A; xe môt tô 74F1 2408 đứng tên sở hữu Trần Xuân T, tuy nhiên ông Thành đã bán lại cho bị cáo với giá 6.000.000 đồng. Ngày 06/02/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Linh đã trả lại các tài sản này cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp là đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/5/2020).

Giao bị cáo Trần Văn T cho UBND xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Xử buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/5/2020).

Cỡ chữ