- Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Van T - Tang tru trai phep chat ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2020/HS-ST Ngày 28/02/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƢNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thương;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hải Vân và ông Nguyễn Quyết Thắng;
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thoa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Lưu Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2020/HSST ngày 22/01/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐXXST-HS ngày 13/02/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn T, sinh năm 1990 tại xã ML, huyện TT, tỉnh Thái Bình; nơi ĐKHKTT: Thôn VB, xã ML, huyện TT, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: Thôn TM, xã ML, huyện TT, tỉnh Thái Bình; trình độ văn hoá: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn M và bà Lưu Thị V; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/6/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 05/01/2015 chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2019 đến nay. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên, có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1989 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn L, xã LH, huyện VG, tỉnh Hưng Yên.
- Chị Phạm Bích N, sinh năm 2001 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Số nhà **TT VG, huyện VG, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 45 phút, ngày 16 tháng 12 năm 2019, tại quán cơm NB ở số nhà **, thị trấn Văn Giang, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, lực lượng cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang đã tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Phạm Văn T, sinh năm 1990 ở thôn TM, xã ML, huyện TT, tỉnh Thái Bình có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy tại túi áo bò phía trước bên trái có 01 túi nilon màu trắng hình chữ nhật kích thước 09cm x 06cm, bên trong có gói giấy bạc bọc chất dạng cục và bột màu trắng, T khai đó là heroine; lực lượng cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng ký hiệu M1 và quản lý của T 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn T.
Quá trình điều tra xác định: Ngày 15/12/2019 T đi xe từ Thái Bình đến khu vực thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để tìm việc. Do nghiện ma túy và biết có khu vực Chùa Dận thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh bán ma túy nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/12/2019, T đi đến khu vực Chùa Dận gặp một người phụ nữ (không rõ tên tuổi) mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang, T hỏi “có hàng không” (tức là có ma tuý không), người phụ nữ nói “có”, T đưa 300.000đ cho người phụ nữ và được người phụ nữ đưa 01 túi nilon bên trong có gói giấy bạc chứa ma tuý (Heroin), T đã cất gói ma tuý trong túi áo bên trái và bắt xe buýt về thị trấn Văn Giang vào quán cơm NB ở số nhà ** thì bị Công an huyện Văn Giang kiểm tra, bắt giữ.
Tại Kết luận giám định số 22/MT-PC09 ngày 19/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất mầu trắng dạng bột và cục trong niêm phong ghi M1 thu của Phạm Văn T, có tổng khối lượng là 0,334g (không phẩy ba ba bốn gam) là ma túy, loại Heroine.
Tại bản Cáo trạng số: 05/CT-VKSVG ngày 21/01/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xác định do nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/12/2019 bị cáo đi đến khu vực Chùa Dận ở thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh mua ma túy về sử dụng, khi chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang, công nhận quyết định truy tố về tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang đối với bị cáo là đúng, bị cáo hối hận về hành vi của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Phạm Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 0,314 gam Heroine do cơ quan giám định hoàn lại; trả lại cho bị cáo giấy chứng minh nhân dân; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 45 phút ngày 16/12/2019 tại số nhà ** thị trấn Văn Giang, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang bắt quả tang Phạm Văn T đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,334 gam (không phẩy ba ba bốn gam) ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù nhận thức được ma tuý không chỉ gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính người sử dụng mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì mục đích sử dụng cho bản thân để thoả mãn cơn nghiện và ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2013 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,314 gam Heroine là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành và vỏ bao bì không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Giấy chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn T là tài sản hợp pháp của bị cáo, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Trong vụ án này, đối tượng nữ giới bán ma túy cho bị cáo không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Hội đồng xét xử không đề cập, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 16/12/2019.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 0,314 gam Heroine là mẫu vật hoàn lại sau khi giám định, được đựng trong bì thư dán kín, có chữ ký và dấu niêm phong.
Trả lại bị cáo 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn T.
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Giang, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Văn Giang và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Giang ngày 10/02/2020).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Hưng Yên; - Viện KSND huyện Văn Giang; - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Giang; - Cơ quan THA hình sự huyện Văn Giang - Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát Công huyện Văn Giang; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Văn Thƣơng |