- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Thanh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2020/HSST Ngày 12/8/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Lý Đức Hiệp
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Hồng Thanh
2. Ông: Sùng Thải Sinh
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà: Mào Thị Chiến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông: Tăng Bá Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12/8/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2020/HSST ngày 09/7/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HS ngày 30/7/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn Th; Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1962 tại Lai Châu.
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Phiêng Ban, xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Thái.
Con ông: Lò Văn M (đã chết) và con bà: Mào Thị M (đã chết).
Gia đình bị cáo có 07 anh, em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình.
Bị cáo có vợ, con: Vợ Lù Thị C - Sinh năm 1962. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1982, con nhỏ nhất sinh năm 1987.
Hiện vợ, con bị cáo đang sinh sống tại bản Phiêng Ban, xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/3/2020 đến ngày 02/4/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 02/4/2020 cho đến nay tại bản Phiêng Ban, xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
(Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 13 giờ 35 phút ngày 24/03/2020, tổ công tác Công an huyện Nậm Nhùn làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát về an ninh trật tự tại Km 87+100 quốc lộ 12 thuộc địa phận bản Phiêng Ban, xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu phát hiện bắt quả tang Lò Văn Th sinh năm 1962 trú tại bản Phiêng Ban, xã Lê Lợi, huyện Nâm Nhùn, tỉnh Lai Châu có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn Th. Vật chứng thu giữ 02 gói được gói thắt nút bằng mảnh nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột khô màu trắng.
Tại Cơ quan điều tra Lò Văn Th khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 24/03/2020, Lò Văn Th đi bộ từ nhà tại bản Phiêng Ban đi xem trâu và phát nương thì gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) bán hàng rong tại quốc lộ 12, từ cầu Huổi Én hướng lên xã Chăn Nưa, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu khoảng 1km. Tại đây, Lò Văn Th mua được của người đàn ông này 02 (hai) gói Heroin gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh gói thắt nút với giá 200.000 đồng. Nhận được Heroin, Lò Văn Th cất giấu 01(một) gói vào túi quần bên trái đang mặc, gói còn lại cất vào túi quần bên phải đang mặc trên người rồi đi về nhà còn người đàn ông đã bán ma túy cho Th đi đâu Lò Văn Th không biết. Về tới nhà, Lò Văn Th ăn cơm và ngủ trưa, số ma túy mua được Lò Văn Th để nguyên trong túi quần. Vào khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Lò Văn Th ngủ dậy, lúc này vẫn cất giấu ma túy trong hai túi quần đang mặc trên người rồi đi bộ ra ngoài để xem trâu thì bị tổ công tác Công an huyện Nậm Nhùn phát hiện bắt quả tang thu giữ tang vật như đã nêu trên.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và trích mẫu giám định ngày 24/3/2020 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Nậm Nhùn xác định: Khối lượng 02 (hai) gói chất bột khô màu trắng thu giữ của Lò Văn Th có tổng khối lượng 0,22 gam (không phẩy hai hai gam). gửi toàn bộ đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 134/GĐ-KTHS ngày 26/3/2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 02 (hai) mẫu chất bột khô màu trắng thu giữ của Lò Văn Th gửi giám định là ma túy, loại Heroin. (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).
Tại bản Cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 08 tháng 7 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Văn Th về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định: "Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm):
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
T¹i phiªn toµ h«m nay vÞ ®¹i diÖn Viện kiểm sát vÉn gi÷ nguyªn quan ®iÓm truy tè ®èi víi bÞ c¸o Lò Văn Th theo bản cáo trạng vµ đưa ra c¸c c¨n cø, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ vật chứng đã thu giữ 02 (hai) gói có khối lượng là 0,22 gam heroine thu giữ của bị cáo cùng các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, VÞ ®¹i diÖn VKS khẳng định bị cáo đã phạm tội "Tàng Trữ trái phép chất ma túy" và ®Ò nghÞ HĐXX áp dụng Điểm c khoản 1 điều 249 BLHS (năm 2015); áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s kho¶n 1 ®iÒu 51 BLHS; Khoản 5 Điều 249 BLHS (năm 2015) đối với bÞ c¸o; miễn hình phạt bổ xung là hình phạt tiền cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
VÒ phÝa bÞ c¸o, t¹i phiªn toµ h«m nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai và bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo t¹i phiªn toµ h«m nay: Bị cáo nhận thức được việc Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra huyện Nậm nhùn, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát huyện Nậm nhùn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
VÒ hành vi phạm tội của bÞ c¸o t¹i phiªn toµ h«m nay bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thừa nhận đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai.
* Về Lời khai của bị cáo: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận rằng: Khi khai nhận trước Cơ quan điều tra, bị cáo không hề bị bức cung, nhục hình; các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, bị cáo được đọc lại và tự nguyện ký nhận và bị cáo thừa nhận đã tàng trữ trái phép 02 (hai) gói có khối lượng là 0,22 gam heroine để sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử thấy rằng: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là tự nguyện, khách quan; biên bản, tài liệu điều tra được thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
* Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến của bị cáo HĐXX thấy rằng:Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn tham gia phiên tòa đã đưa ra các căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ kết quả mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu vật gửi đi giám định. Kết luận giám định số 134/GĐ-KTHS ngày 26/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu đối với mẫu vật thu giữ của Lò Văn Th. Các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bởi vì những quan điểm này phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được thu thập khách quan, hợp pháp có trong hồ sơ vụ án cùng lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đã cho thấy: Vào hồi 13 giờ 35 phút, ngày 24/03/2020, tại Km 87+100 quốc lộ 12 thuộc địa phận bản Phiêng Ban, xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an huyện Nậm Nhùn phát hiện Lò Văn Th có hành vi cất dấu trái phép 0,22 gam Heroin với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lò Văn Th đã phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS .
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên Vì vậy khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét hành vi phạm tội với tính chất của bị cáo đã gây ra, gây bức xúc cho nhân dân địa phương, coi thường pháp luật. Vì vậy phải có hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo và cũng là bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về vật chứng thu giữ gồm: 02 (hai) gói Heroine có khối lượng 0,22 gam đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật.Vậy HĐXX không đặt vấn đề giải quyết.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự (năm 2015) quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ đều cho thấy bị cáo làm ruộng, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.
Về án phí: BÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.
Trong vụ án này: Theo lời khai của Lò Văn Th: Nguồn gốc ma túy thu giữ là do Thanh mua của người đàn ông bán hàng rong không rõ lai lịch. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Vậy HĐXX không đặt vấn đề giải quyết.
V× c¸c lÏ trªn;
QuyÕt §Þnh;
1/Tuyªn bè bÞ c¸o: Lò Văn Th ph¹m téi: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2/¸p dông điểm c kho¶n 1 ®iÒu 249; Điểm s khoản 1 điều 51 BLHS (năm 2015).
Xö ph¹t bị cáo 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù “được khấu trừ thời gian tạm giữ 09 (chín) ngày”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
3/ Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự (năm 2015) miễn hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.
4/ Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
¸n xö c«ng khai s¬ thÈm cã mÆt bÞ c¸o báo cho bÞ c¸o biÕt được quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Nậm Nhùn; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Công an huyện Nậm Nhùn; - Thi hành án dân sự huyện Nậm Nhùn; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lý Đức Hiệp |