vanban.org

Bản án 07/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 13/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

). 20,06 gam thuốc phiện của Lỳ Nhù X .

). 26,45 gam thuốc phiện của Lỳ Nhù X và Lỳ Hừ G . ). 01 (Một) bộ bàn đèn tự tạo để hút thuốc phiện của Lỳ Nhù X . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lỳ Nhù X và Lỳ Hừ G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? ). 20,06 gam thuốc phiện của Lỳ Nhù X .
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2020/HSST
Ngày: 13/2/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Xuân Hải.

Các hội thẩm nhân dân.

Bà: Lý Thị The

Ông: Tống Văn Đông

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông La Văn Xôm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 2 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2020/TL-ST-HS, ngày 10 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 01 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Lỳ Nhù X - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không - Sinh năm 1989, tại xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản L, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: La Hủ; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không; Con ông Lỳ Chà L (Đã chết) và con bà Pờ Mỳ P, sinh năm 1953; Vợ: Vàng Lù P, sinh năm 1988; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xử lý; Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 16/10/2019, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện M , tỉnh Lai Châu từ ngày 25/10/2019 đến ngày 20/11/2019 bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị tạm giữ từ ngày 20/11/2019 đến ngày 29/11/2019 bị khởi tố và tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

2. Lỳ Hừ G - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không - Sinh năm 1998, tại xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản L, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: La Hủ; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không; Con ông Lỳ Mò H. sinh năm 1961 và con bà Pờ Gia P, sinh năm 1971; Vợ, con: Không ; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xử lý; Bị bắt quả tang ngày 20/11/2019, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu từ ngày 29/11/2019, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa. 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Giàng Mỳ L, trú tại: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

- Ông Pờ Hừ T, trú tại: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

- Ông Lỳ Xú H, trú tại: Bản L, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

4. Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Công Hưởng – Trợ giúp viên pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai Châu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 15/10/2019 Lỳ Nhù X đi xuống trung tâm xã T, khi đến khu vực bản T thì gặp một người đàn ông hỏi X có mua thuốc phiện không, qua trao đổi X đã mua 01 (Một) gói thuốc phiện với giá 1.000.000 đồng với người đàn ông này, sau đó tiếp tục đi bộ xuống trung tâm xã, rồi đi vào nhà của vợ chồng Pờ Hừ T và Giàng Mỳ L ở Bản T để ngủ nhờ qua đêm. Đến sáng ngày 16/10/2019 khi x lấy gói thuốc phiện ra để hút thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Ka Lăng bắt quả tang. Ngày 25/10/2019 X bị cơ quan điều tra công an huyện Mường Tè khởi tố và bị cấm đi khỏi nơ cư trú. Đến ngày 20/11/2019 thì có Lỳ Nhù G đi xe mô tô đến rủ X cùng đi xuống bản Nậm Pặm vào nhà một người phụ nữ người dân tộc La Hủ để hỏi mua thuốc phiện, qua trao đổi G và X đã góp tiền mỗi người 400.000 đồng để mua 01 (Một) gói thuốc phiện với người phụ nữ này, sau đó G đưa cho X cầm rồi điều khiển xe mô tô quay về nhà, khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày khi đi đến km 06 tuyến đường Pắc Ma lên Ka Lăng thì bị tổ công tác công an huyện Mường Tè bắt quả tang, thu giữ 01 (Một) gói thuốc phiện được gói bằng túi ni lon màu trắng và 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại WAVE RSX màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 25B1-58024.

Tại bản kết luận giám định số: 57/GĐ-KTHS ngày 17/10/2019 của công an huyện Mường Tè và Kết luật giám định số 470/GĐ-KTHS ngày 22/10/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Vật chứng thu giữ của Lỳ Nhù X có tổng khối lượng là 22,85 gam, Mẫu vật gửi đến giám định là ma túy, loại thuốc phiện.

Tại bản kết luận giám định số: 60/GĐ-KTHS ngày 20/11/2019 của công an huyện Mường Tè và Kết luật giám định số 496/GĐ-KTHS ngày 25/11/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Vật chứng thu giữ của Lỳ Nhù X và Lỳ Hừ G có tổng khối lượng là 27,95 gam, Mẫu vật gửi đến giám định là ma túy, loại thuốc phiện. Tại bản cáo trạng số: 05/CT-VKS-MT ngày 10 tháng 01 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố Lỳ Nhù X về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; Lỳ Hừ G về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm b khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lỳ Nhù X từ 05 (Năm) năm đến 05 (Năm) 06 (Sáu) tháng tù.

- Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lỳ Hừ G từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47/ Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106/ Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy:

+). 20,06 gam thuốc phiện của Lỳ Nhù X .

+). 26,45 gam thuốc phiện của Lỳ Nhù X và Lỳ Hừ G .

+). 01 (Một) bộ bàn đèn tự tạo để hút thuốc phiện của Lỳ Nhù X .

+). 01 (Một) hộp nhựa màu trắng hình trụ có nắp đậy, bên trên nắp có chữ Trung Quốc của Lỳ Nhù X .

+). 01 (Một) mảnh ni lon màu trắng.

- Không áp dụng khoản 5 Điều 249/Bộ luật hình sự, là phạt tiền đối với các bị cáo, do hoàn cảnh gia đình của các bị cáo khó khăn.

- Về án Phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UNTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Tại phiên Tòa hôm nay sau khi phân tích nguyên nhân, điều kiện, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của các bị cáo, người bào chữa đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đối với các bị cáo; Về điều luật áp dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249/Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Lỳ Nhù X và điểm b khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lỳ Hừ G ; Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249/Bộ luật hình sự; Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa, sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị về mức hình phạt.

Tại phiên Tòa hôm nay những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Giàng Mỳ L ; Ông Pờ Hừ T ; Ông Lỳ Xú H , đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đều vắng mặt không vì lý do bất khả kháng, lý do khách quan, sự vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử. Sau khi Hội đồng xét xử công bố các lời khai có trong hồ sơ vụ án, các bị cáo đều công nhận, nhất trí với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là hoàn toàn khách quan đúng sự thật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc các bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, các bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, không có ý kiến gì tranh luận, nhất trí với bản luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên, các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 16/10/2019, Lỳ Nhù X đã có hành vi tàng trữ trái phép 22,85 gam chất ma túy, loại thuốc phiện. Đến ngày 20/11/2019, Lỳ Nhù X tiếp tục cùng Lỳ Hừ G đã có hành vi tàng trữ trái phép 27,95 gam chất ma túy, loại thuốc phiện Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội" Tàng trữ trái phép chất ma túy" vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố Lỳ Nhù X về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; Lỳ Hừ G về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, là hoàn toàn đúng người, đúng tội, các bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

. Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, các bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

. Đề nghị của kiểm sát viên, người bào chữa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm là đúng quy định pháp luật nên cần chấp nhận. [4]. Về tình tiết tăng nặng xét các bị cáo Lỳ Nhù X và Lỳ Hừ G không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 /Bộ luật hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Lỳ Nhù X và Lỳ Hừ G luôn có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự (Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải). [6]. Về nhân thân bị cáo Lỳ Nhù X có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, lớn lên lấy vợ sống tại địa phương, là người dân tộc thiểu số (La Hủ) sống ở vùng sâu, vùng có điều kiện kinh tế,xã hội khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện, chỉ vì mục đích nhằm thỏa mãn việc sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã phạm tội.

. Về nhân thân bị cáo Lỳ Hừ G có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, lớn lên lấy vợ sống tại địa phương, là người dân tộc thiểu số (La Hủ) sống ở vùng sâu, vùng có điều kiện kinh tế,xã hội khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện, chỉ vì mục đích nhằm thỏa mãn việc sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã phạm tội.

. Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249/ Bộ luật hình sự các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 5 trăm triệu đồng, vì điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình và bản thân các bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền cho các bị cáo.

. Vật chứng của vụ án là: 20,06 gam thuốc phiện của Lỳ Nhù X ; 26,45 gam thuốc phiện của Lỳ Nhù X và Lỳ Hừ G ; 01 (Một) bộ bàn đèn tự tạo để hút thuốc phiện của Lỳ Nhù X ; 01 (Một) hộp nhựa màu trắng hình trụ có nắp đậy, bên trên nắp có chữ Trung Quốc của Lỳ Nhù X ; 01 (Một) mảnh ni lon màu trắng. Cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UNTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số (Dân tộc La Hủ) sinh sống ở bản L , xã T , huyện M là xã biên giới có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự. Tuyên bố các bị cáo Lỳ Nhù X và Lỳ Hừ G phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm b khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lỳ Nhù X 05 (Năm) năm tù, được trừ thời gian tạm giữ là 09 (chín) ngày từ ngày 16/10/2019 đến ngày 25/10/2019, Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 20/11/2019.

- Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lỳ Hừ G 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ là 09 (chín) ngày từ ngày 20/11/2019 đến ngày 29/11/2019, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47/ Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106/ Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy:

+). 20,06 gam thuốc phiện của Lỳ Nhù X .

+). 26,45 gam thuốc phiện của Lỳ Nhù X và Lỳ Hừ G .

+). 01 (Một) bộ bàn đèn tự tạo để hút thuốc phiện của Lỳ Nhù X .

+). 01 (Một) hộp nhựa màu trắng hình trụ có nắp đậy, bên trên nắp có chữ Trung Quốc của Lỳ Nhù X .

+). 01 (Một) mảnh ni lon màu trắng.

- Áp dụng khoản 2 Điều 135/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UNTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lỳ Nhù X và Lỳ Hừ G .

- Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ