- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Phú Diện - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!V! TỈNH!N! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 07/2020/HSST Ngày 10 tháng 03 năm 2020 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!V,!TỈNH!N!
- Thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!
Thẩm!phán!-!Chủ!toạ!phiên!toà: Ông Hà!Thiện!Thành
Các!hội!thẩm!nhân!dân:!
Ông Đinh!Công!Hiến!
Ông Đinh!Duy!Quyết! !
Thư!ký!toà!án!ghi!biên!bản!phiên!toà: Bà Bùi!Hồng!Mơ!- là thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N.
Đại!diện!Viện!kiểm!sát!nhân!dân!huyện!V,!tỉnh!N!tham!gia!phiên!toà: Ông Phạm!Công!Hải - Kiểm sát viên
Ngày 10/03/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2020/HSST ngày 21/01/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:
*!Đỗ!Phú!D!(Tên gọi khác không), sinh n¨m 1985; tại xã G, huyện V, tỉnh N; trú tại thôn Đ, xã G, huyện V, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 03/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Phú S vµ bµ Phạm Thị V; vợ Bùi Thị P và có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2017; tiền án; tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án Hình sự sơ thẩm số 28/2010/HSST ngày 03/12/2010, của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh H xử phạt 24 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2019, chuyển tạm giam ngày 20/12/2019 tíi nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
*!Người!làm!chứng:
Anh Nguyễn!Cơ!T, sinh năm 1980. Vắng mặt tại phiên tòa.
Anh Đỗ!Thanh!T, sinh năm 1984. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Chiều ngày 18/12/2019, do có nhu cầu sử dụng heroine nên Đỗ Phú D đi mua 01 bơm kim tiêm và 01 ống nước cất, rồi đi nhờ xe máy của người đi đường (không xác định được lai lịch) từ đường đê sông Hoàng Long thuộc địa phận xã G đến khu vực đầu cầu K, xã G. Sau đó tiếp tục đi đò sang xã Y, huyện Ý, tỉnh Đ tìm mua heroine. Khi đến khu vực bến đò thuộc địa phận xã Y, D đã gặp và mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) 02 gói nhỏ ma túy, gói ngoài bằng giấy bạc mầu vàng với giá 300.000 đồng, tuy không mở ra kiểm tra nhưng xác định đó là heroine nên D cầm 02 gói nhỏ ma túy này cất giấu vào túi áo khoác bên trong phía trước bên trái đang mặc rồi đi xuống khu vực chân đê, lấy một phần ma túy trong 01 gói nhỏ cho và bơm kim tiêm để sử dụng bằng hình thức chích vào tĩnh mạch tay phải. Sau khi sử dụng ma túy xong, D cất gói ma túy cùng chiếc kim tiêm vào túi áo khoác phía trong bên phải, còn vỏ ống nước cất D ném xuống sông Đáy rồi đi về huyện V. Khi vừa xuống đò thuộc địa phận xã T, huyện V thì D bị lực lượng công an đang làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. D đã tự nguyện giao nộp 02 gói nhỏ ma túy đều gói ngoài bằng giấy bạc mầu vàng đang cất giấu ở túi áo khoác bên trong phía trước bên trái cho tổ công tác. Tổ công tác yêu cầu D mở 02 gói nhỏ ra kiểm tra thì phát hiện bên trong đều có chất bột dạng cục mầu trắng, D khai nhận đó là 02 gói nhỏ heroine D vừa đi mua, cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong 02 gói nhỏ nêu trên vào một phong bì thư, dán kín, có chữ ký xác nhận của Đỗ Phú D, các thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Công an xã T. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của D 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng rồi đưa D cùng toàn bộ vật chứng thu giữ về tại Đồn Công an - Khu công nghiệp K lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và khối lượng ma túy đối với chất bột dạng cục màu trắng trong 02 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy bạc mầu vàng thu giữ của Đỗ Phú D, ký hiệu M1 và M2, để làm căn cứ xử lý theo quy định.
Tại bản Kết luận giám định số 16/KLGĐ-PC09-MT ngày 20/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N, kết luận:!! ! !
“-!Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng là 0,0800; M2 có khối lượng 0,1500 gam. Tổng chất bột dạng cục mầu trắng trong hai mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2 là 0,2300 (Không phẩy hai nghìn ba trăm) gam
- Mẫu chất bột dạng cục mầu trắng trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2 đều là ma túy, loại Heroine.
Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.”
- Hoàn lại đối tượng giám định gồm:
+ Chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0304 (không phẩy không nghìn ba trăm linh bốn) gam, M2 có khối lượng 0,0910 (không phẩy không nghìn chín trăm mười) gam, đều là ma túy, loại Heroine
+ Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.
(Tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 16/KLGĐ-PC09-MT theo đúng quy định pháp luật).
Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS-GV ngày 20/01/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố Đỗ!Phú!D ra trước Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N để xét xử về tội “Tàng!trữ!trái!phép!chất!ma!túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Phú D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo!Đỗ!Phú!D!phạm tội “Tàng!trữ! trái! phép!chất!ma!túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Phú D từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2019.
Về!xử!lý!vật!chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 16/KLGĐ-PC09-MT, bên trong đựng: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0304 gam, M2 có khối lượng 0,0910 gam và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong có 02 mảnh giấy bạc mầu vàng, 02 vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Phú D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 18/12/2019, tại khu vực bến đò xã T, huyện V, tỉnh N, bị cáo Đỗ Phú D đã có hành vi cất giấu trái phép 0,2300 gam heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.!
Bộ luật Hình sự quy định:
Điều!249.!Tội!tàng!trữ!trái!phép!chất!ma!tuý
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, ……..;
b, ……..;
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…….
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[3]. Hành vi của bị cáo Đỗ Phú D đã nêu trên là phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, tác động rất xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, là một trong các nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ và sự phát triển bình thường của nòi giống, làm khánh kiệt kinh tế của người sử dụng chất ma túy, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm minh để giáo dục cải tạo bị cáo và là bài học răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt áp dụng được căn cứ vào tính chất tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án để quyết định cho phù hợp.
[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Phú D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa và người bào chữa cho bị cáo, đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; khai nhận hành vi phạm tội của mình trước khi bị phát hiện. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[7]. Về nhân thân: Bị cáo Đỗ Phú D tõng bÞ kÕt ¸n, nhng ®· ®îc ®¬ng nhiªn xãa ¸n tÝch, nªn ®îc coi nh cha bÞ kÕt ¸n.
[8]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải cách ly bÞ c¸o ra khái ®êi sèng x· héi mét thêi gian, t¬ng xøng víi hµnh vi mµ bÞ c¸o ®· g©y ra, míi cã t¸c dông gi¸o dôc, c¶i t¹o vµ n©ng cao c«ng t¸c phßng ngõa chung, ®Ó thÓ hiÖn tÝnh nghiªm minh cña ph¸p luËt.
[9]. VÒ h×nh ph¹t bæ sung: XÐt b¶n th©n bÞ c¸o Đỗ Phú D lµ ngêi sö dông ma tóy, tàng trữ trái phép chất ma tóy nhằm mục đích sử dụng, không mang tính vụ lợi, kh«ng cã tµi s¶n g× cã gi¸ trÞ, nªn kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ xung lµ ph¹t tiÒn ®èi víi bÞ c¸o.
[10]. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của Đỗ Phú D là 0,23 gam Heroine. Sau khi lấy mẫu giám định, khối lượng Heroine còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0304 gam, M2 có khối lượng 0,0910 gam và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, đã được niêm phong trong phong bì ghi số 16/KLGĐ-PC09-MT. 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong có 02 mảnh giấy bạc mầu vàng, 02 vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với vỏ ống nước cất sau khi sử dụng xong ma túy, D đã ném xuống sông Đáy thuộc địa phận xã Y, huyện Ý, tỉnh Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.
[11]. Về nguồn gốc số Heroine, bị cáo Đỗ Phú D khai mua của người đàn ông tại khu vực bến đò thuộc địa phận xã Y, huyện Ý, tỉnh Đ vào ngày 18/12/2019. Tuy nhiên, D không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không có đủ căn cứ để xác minh, làm rõ.
[12] VÒ ¸n phÝ: Bị c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[13] VÒ quyÒn kh¸ng c¸o: Bị cáo cã quyÒn kh¸ng c¸o theo luËt ®Þnh.
V× c¸c lÏ trªn.
QUYẾT!ĐỊNH!
1. Tuyên!bố:!Bị cáo Đỗ!Phú!D phạm tội "Tàng!trữ!trái!phép!chất!ma!túy".
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xö ph¹t bÞ c¸o Đỗ!Phú!D, 18 (Mười tám) th¸ng tï. Thêi h¹n chấp hành hình phạt tï, tÝnh tõ ngµy bị bắt tạm giữ 18/12/2019.
2.!Biện!pháp!tư!pháp!và!xử!lý!vật!chứng:
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 16/KLGĐ-PC09-MT, bên trong đựng: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0304 gam, M2 có khối lượng 0,0910 gam và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong có 02 mảnh giấy bạc mầu vàng, 02 vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng. (Đặc điểm các vật chứng tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/01/2020, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.
3. Về!án!phí:!Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Đỗ Phú D phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
N¬i nhËn:
| - TAND tØnh N; - VKSND tỉnh N; - VKSND huyÖn V; - Trại tạm giam CA tỉnh N;!!!!! - C«ng an huyÖn V; - Chi cục THADS huyÖn V; - BÞ c¸o; - Lu hå s¬, v¨n phßng; (Th«ng b¸o cho chÝnh quyÒn ®Þa ph¬ng n¬i bÞ c¸o c tró). | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA Hà!Thiện!Thành |