- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn Th phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào điểm a, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/HSPT Ngày 21-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Hải Yến.
Các thẩm phán:
Bà Đỗ Thị Hà
Ông Nguyễn Thái Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trà - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2020/HSPT ngày 08 tháng 01 năm 2020 đối với các bị cáo Đào Văn Th (tức Đầu Văn Th) và Nguyễn Công Kh do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đối với bản án hình sự sơ thẩm số 82/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện T H, tỉnh Thái Bình.
- Bị cáo bị kháng nghị:
1. Bị cáo: Đào Văn Th (tức Đầu Văn Th), sinh năm 1964; Nơi cư trú: Thôn Ng L, xã T T, huyện T H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đầu Văn N và bà Trần Thị S ; có vợ là Nguyễn Thị H , có 01 con sinh năm 1983; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Tại bản án số 09/2002/HSST ngày 10/9/2002, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tháng 4 năm 2006 được đặc xá tha tù. Bản án số 35/2008/HSST ngày 13/6/2008 của TAND huyện Tiền Hải xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 19/01/2010. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/9/2019 đến ngày 25/9/2019 chuyển tạm giam. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
2. Bị cáo: Nguyễn Công Kh, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Thôn C R, xã Ph C, huyện T H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Qu (đã chết) và bà Nguyễn Thị S; có vợ là Chu Thị Ng (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Tại bản án số 25/2010/HSST ngày 07/7/2010, Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bản án số 10/HSST ngày 17/4/2015, Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 24/01/2017. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/9/2019 đến ngày 25/9/2019 chuyển tạm giam. Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 23/9/2019, Công an huyện T H phát hiện Nguyễn Công Kh điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave anpha màu đen, biển kiểm soát 17L2-1211 đang đứng trước của nhà Đào Văn Th. Do thấy có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên Công an huyện T H yêu cầu Kh xuống xe làm việc thì Kh phóng xe bỏ chạy. Công an huyện T H tiến hành làm việc với Đào Văn Th, Th khai vừa bán cho Kh 01 gói ma túy loại hêrôin với giá 4.000.000 đồng, Th không giao ma túy trực tiếp cho Kh mà nhờ vợ Th là Nguyễn Thị H giao ma túy cho Kh. Đối với Kh, sau khi bỏ chạy, tổ công tác Công an huyện T H đã đuổi theo và bắt giữ Kh tại khu vực trước cửa nhà nghỉ H H thuộc địa phận xã T Gi, huyện TH. Kh khai nhận vừa mua của Th một gói ma túy với giá 4.000.000 đồng. Tại UBND xã T T, Th khai bán cho Kh một gói ma túy loại hêrôin với giá 4.000.000 đồng, Th nhờ vợ là chị Nguyễn Thị H giao ma túy cho Kh nhưng Th không nói với chị H đó là ma túy. Chị H khai có đưa cho Kh gói hàng nhưng không biết có gì ở bên trong; Kh tự giác lấy từ túi áo ngực bên phải phía trước áo mà Kh đang mặc một gói được gói bằng tờ giấy báo, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (ký hiệu M1), Kh khai đó là ma túy vừa mua của Th với giá 4.000.000 đồng; Chị H tự giác lấy từ túi quần đang mặc số tiền 4.000.000 đồng (gồm 08 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng), chị H khai đó là tiền vừa nhận từ Kh. Công an huyện T H tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Th và Kh và tiến hành lập biên bản quản lý và niêm phong vật chứng thu trên.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Văn Th tại thôn Ng L, xã T T, huyện T H, tỉnh Thái Bình đã phát hiện, thu giữ tại ghế vải cạnh tủ kê phòng ngủ phía trước tầng 2 một gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng niêm phong (ký hiệu M2), 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng và 01 cân tiểu li mặt trước màu xanh mặt sau màu trắng. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyến Công Kh tại thôn C R, xã Ph C, huyện T H, tỉnh Thái Bình không phát hiện và thu giữ gì.
Tại bản kết luận giám định số 337/KLGĐ-PC09 ngày 25/9/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận mẫu M1, M2 đều là ma túy loại hêrôin, M1 có khối lượng 2,2918 gam; M2 có khối lượng 1,4576 gam.
Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện T H, tỉnh Thái Bình quyết định:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Nguyễn Công Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38, điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Văn Th 02 năm tù , thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2019.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38, điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Công Kh 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2019.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng và án phí và quyền kháng cáo đối với các bị cáo.
Ngày 27/12/2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình kháng nghị đối với bản án sơ thẩm, đề nghị tăng hình phạt của bị cáo Th và bị cáo Kh.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Th khai nhận nguồn gốc số ma túy bán cho Kh và số ma túy cơ quan công an thu giữ tại nhà bị cáo là do bị cáo mua của một người không quen biết tại khu vực bến xe khánh thành phố Thái Bình với giá 5.000.000đ với mục đích bán kiếm lời, ngày 23/9/2019 Th đã bán cho Kh một gói với giá 4.000.000đ thì bị bắt giữ. Kh khai bản thân bị nghiện ma túy nên đã mua của Th 4.000.000đ tiền ma túy với mục đích để sử dụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên Quyết định kháng nghị và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Th và bị cáo Kh. Đề nghị xử phạt bị cáo Th từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù; bị cáo Kh từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tính hợp pháp của Quyết định kháng nghị: Quyết định kháng nghị ban hành trong thời hạn luật định là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
Xét quyết định kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểmcho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Cả bị cáo Th và bị cáo Kh đã từng bị Tòa án kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng các bị cáo không chịu cải tạo, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội là thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Bị cáo Th bán và tàng trữ ma túy có tổng trọng lượng là 3,7497 gam mục đích để kiếm lời, bị cáo Kh tàng trữ 2,2918 gam ma túy mục đích để sử dụng, đây là số lượng ma túy tương đối lớn. Vì vậy cần xét xử các bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và để làm bài học cho những người đã và đang có hành vi mua bán và tàng trữ ma túy cũng như những hành vi khác có liên quan, góp phần vào việc đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm về ma túy nói riêng và các loại tội phạm khác. Án sơ thẩm không đánh giá đúng tính chất hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo nên xử phạt bị cáo Đào Văn Th 02 năm tù; bị cáo Nguyễn Công Kh 01 năm 06 tháng tù là nhẹ, chưa đủ sức răn đe, giáo dục, do đó cần chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, tăng hình phạt đối với cả hai bị cáo mới phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo.
Do trình tự xét xử phúc thẩm theo quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nên các bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng vào điểm a, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
1. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình. Sửa phần hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 82/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện T H, tỉnh Thái Bình.
1.1. Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn Th (tức Đầu Văn Th) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Công Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38, điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Văn Th (Đầu Văn Th) 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2019.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38, điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Công Kh 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2019.
2. Về án phí: Áp dụng điểm g, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Th và bị cáo Kh không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 21/02/2020./
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - TAND, VKSND, CA, THA h.T H; - Bị cáo kháng cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa. (đã ký) Lương Hải Yến |