- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN KHÁNH - TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2020/HS-ST Ngày 20-02- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN KHÁNH - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hữu Ý.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Thu và ông Phạm Văn Công
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Cường, Thẩm tra Viên Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh tham gia phiên tòa: ông Phạm Xuân Đình, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2020/TLST-HS ngày 16/01/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-HS ngày 07/02/2020 đối với bị cáo: Lê Thanh T, sinh năm 1974; ĐKHK và cư trú: xóm 3B, xã Khánh N, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Nguyên N và bà Nguyễn Thị L; vợ: Phạm Thị T và có 3 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/11/2019 đến ngày 20/11/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay; có mặt.
Người làm chứng: anh Mai Quang A và anh Lê Văn T ( đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Thanh T là người nghiện ma túy. Khoảng 9 giờ ngày 18/11/2019, Lê Văn T, sinh năm 1987; trú tại xóm 3A, xã Khánh N, huyện yên Khánh điều khiển xe máy biển kiểm soát 35K1-ABCDE chở T đi từ xã Khánh N đến đoạn đường thuộc xã B, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. T1 dừng xe đứng đợi ngoài đường, còn T đi bộ vào một đường dong xóm gặp một người đàn ông không quen biết mua được 01 gói ma túy giá 300.000 đồng, rồi cất giấu trong người mục đích đem về nhà để sử dụng. Sau đó T quay lại nơi T1 đứng đợi, rồi cả hai đi về đến ngã tư xã Khánh N thì T1 dừng xe để T đi bộ về nhà. Khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày khi T đang đi bộ trên đoạn đường thuộc xóm 3B, xã Khánh N, huyện Yên Khánh thì gặp tổ công tác của Công an huyện Yên Khánh đang làm nhiệm vụ tại đây; do sợ bị Công an kiểm tra phát hiện hành vi cất ma túy trong người nên T xin tự thú và lấy trong túi quần bên phải đang mặc một gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng giao nộp cho tổ công tác.Tổ công tác đã lập biên bản người phạm tội tự thú, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định ( ký hiệu M1) và gửi toàn bộ gói chất bột dạng cục màu trắng đã thu giữ của T để trưng cầu giám định.
Tại kết luận giám định số 332/KLGĐ-PC09-MT ngày 19/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1488 gam là ma túy, loại Heroine.
Cáo trạng số 07/CT-VKSYK ngày 13/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh truy tố bị cáo Lê Thanh T ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 332/KLGĐ-PC09-MT của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Ninh Bình bên trong có 0,111 gam ma túy loại hêrôin còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ, bao gói mẫu giám định; 01 phong bì niêm phong của Công an huyện Yên Khánh bên trong có vỏ phong bì và 01 mảnh giấy bạc màu trắng thu giữ của bị cáo ký hiệu N.
Nói lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX, xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng pháp luật.
Nh÷ng chøng cø x¸c ®Þnh téi: Lêi khai cña bÞ c¸o phï hîp víi lêi khai trong qu¸ tr×nh ®iÒu tra, biªn b¶n người ph¹m téi tự thú; lêi khai cña những ngưêi tham gia tố tụng; kÕt luËn gi¸m ®Þnh chÊt ma tóy thu giữ của bị cáo vµ c¸c tµi liÖu, chøng cø kh¸c cã trong hå s¬ vô ¸n, ®· cã ®ñ c¬ së khẳng định: Hồi 9 giờ 45 phút ngày 18/11/2019 tại đoạn đường thuộc xóm 3B, xã Khánh N, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; bị cáo Lê Thanh T đang cất giữ bất hợp pháp trên người 0,1488 gam ma túy, loại Heroine khi gặp tổ công tác Công an huyện Yên Khánh đang làm nhiệm vụ, bị cáo đã tự thú và giao nộp gói ma túy cho tổ công tác. Hành vi và khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến những quy định của nhà nước về chế độ quản lý các chất ma tuý; gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội; là nguyên nhân nảy sinh các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của xã hội cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết ở xã B, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình; nhưng không biết tên, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra xử lý.
Quá trình điều tra bị cáo còn khai sáng ngày 18/11/2019 Lê Văn T rủ bị cáo đi mua ma túy rồi chở bị cáo xuống B và đưa 300.000đ cho bị cáo mua ma túy. Sau khi nua được ma túy bị cáo đã chia cho T1 một phần, phần còn lại bị cáo cất giữ khi gặp tổ công tác đã giao nộp. Xong khi điều tra T1 phủ nhận lời khai của bị cáo và cũng không có tài liệu chứng cứ xác định T1 đồng phạm với bị cáo trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 332/KLGĐ-PC09-MT của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Ninh Bình bên trong có 0,111 gam ma túy loại hêrôin còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ, bao gói mẫu giám định; 01 phong bì niêm phong của Công an huyện Yên Khánh bên trong có vỏ phong bì và vỏ giấy bạc màu trắng thu giữ của bị cáo ký hiệu N, toàn bộ số vật chứng này cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Xử phạt Lê Thanh T 18 ( Mười tám ) tháng tù; thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18/11/2019.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 332/KLGĐ-PC09-MT của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Ninh Bình bên trong có 0,111 gam ma túy loại hêrôin còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ, bao gói mẫu giám định; 01 phong bì niêm phong của Công an huyện Yên Khánh bên trong có vỏ phong bì và vỏ giấy bạc màu trắng thu giữ của bị cáo ký hiệu N ( vật chứng có đặc điểm mô tả như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 /01/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Khánh với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Khánh).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật TTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình - VKSND tỉnh Ninh Bình - VKSND huyện Yên Khánh - Chi cục THA huyện Yên Khánh - Công an huyện Yên Khánh - UBND xã Khánh N - Người tham gia tố tụng - Lưu hồ sơ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Hữu Ý THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hữu Ý |