- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: tuyên bố bị cáo Đinh Văn D phạm tội: “ tàng trữ trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 07/2020/HS-ST Ngày: 05/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Đức Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Đinh Quốc Hội
Ông: Nguyễn Thanh Toàn
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Cao Lương Bằng – Thư ký Toà án Minh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá: bà Cao Thị Mỹ Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2020, tại phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2020/TLST-HS ngày 27/3/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXXST- HS, ngày 20/4/2020, đối với bị cáo:
Đinh Văn D; tên gọi khác: không; sinh ngày: 15/10/199* tại: xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình; nơi ĐKNKTT: thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: sản xuất nông nghiệp; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Ngh, sinh năm 1944 và bà Cao Thị T, sinh năm 1951; vợ: Đinh Thị Nh, sinh năm 1992; con: 02 đứa, đứa lớn nhất 07 tuổi, nhỏ nhất chưa 06 tuổi; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/3/2020 cho đến ngày 13/3/2020 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.
- những người làm chứng:
1. Anh Đinh Công T; sinh năm 1990; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
2. Chị Cao Thị V; sinh năm 1994; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 13 giờ 30 phút ngày 10 tháng 03 năm 2020, Công an huyện Minh Hóa trong lúc tuần tra tại nhà anh Đinh Công T ở thôn Tân Bình, xã Hóa Hợp, huyện Minh Hóa, phát hiện Đinh Văn D đang cầm trên tay trái một gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa 24 viên nén màu hồng, trên mặt mỗi viên ký hiệu “WY”, Diển khai nhận là ma túy loại hồng phiến. Công an huyện Minh Hóa đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ niêm phong tang vật theo đúng quy định.
Quá trình điều tra, Đinh Văn Di khai nhận vào khoảng 13 giờ ngày 10/03/2020 Diển điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73C1 – 10891 từ nhà ở thôn Tân lợi đến thôn Lâm Hóa, xã Hóa Hợp chơi. Khi đi trên đường Hồ Chí Minh, D thấy một người đàn ông (D không quen, không biết tên, tuổi, địa chỉ) dừng xe bên đường, nên D dừng xe lại hỏi có ma túy bán không, người đàn ông trả lời có nên D mua 24 viên với giá 2.000.000 đồng, mua xong D điều khiển xe máy về nhà anh Đinh Công T, vừa ngồi chơi được khoảng 10 phút thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số 210/GĐ-PC 09 ngày 12/03/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,291g.
Methamphetamine ((+) – (S) – N – α – dimethylphenethylamine) nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ – CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ.
Vật chứng vụ án gồm:
- số ma túy sau giám định bỏ vào 01 phong bì thư dán kín ghi "210/GĐ-PC09" "Mẫu ký hiệu A" được niêm phong bằng các chữ ký của ông Đặng Xuân Bảo, Lưu Đức Bình, Nguyễn Ngọc Sơn và dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình;
- 01 xe máy hiệu SIRIUS, màu sơn đen, biển kiểm soát 73C1 – 10891, xe đã qua sử dụng.
Cáo trạng số: 12/CT-VKSMH ngày 27/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá quyết định truy tố bị cáo Đinh Văn D về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Đinh Văn D phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249; các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Văn D, xử phạt bị cáo D từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù; xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của BLTTHS tịch thu tiêu hủy: số ma túy sau giám định bỏ vào 01 bì thư dán, kín ghi "210/GĐ-PC09" "Mẫu ký hiệu A" được niêm phong bằng các chữ ký của ông Đặng Xuân Bảo, Lưu Đức Bình, Nguyễn Ngọc Sơn và dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình; căn cứ khoản 3 Điều 106 của BLTTHS trả lại cho bị cáo: 01 xe máy hiệu SIRIUS, màu sơn đen, biển kiểm soát 73C1 – 10891, xe đã qua sử dụng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo D trình bày: bị cáo đã hối hận về hành vi phạm tội của mình mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, giúp đỡ vợ nuôi dạy, chăm sóc các con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Minh Hóa, Viện kiểm sát huyện Minh Hóa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Toà án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho những người làm chứng tham gia phiên toà nhưng tại phiên toà vắng mặt, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử do đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: lúc 13 giờ 30 phút ngày 10 tháng 03 năm 2020, tại nhà anh Đinh Công T, Đinh Văn D có hành vi tàng trữ 2,291g ma túy loại Methamphetamine để sử dụng.
Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội đó phù hợp và các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ và vật chứng của vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đinh Văn D phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa truy tố bị cáo Đinh Văn D về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội
. Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương vì ma tuý là chất gây nghiện có tác hại đến sức khoẻ, nhân cách con người và là nguyên nhân của các loại tội phạm khác. Bị cáo biết là mọi hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vì xem thường pháp luật nên bị cáo đã phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt phù hợp tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe và giáo dục chung.
. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân của bị cáo Đinh Văn D: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng.
Tình tiết tăng nặng: không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thấy được lỗi lầm của mình là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ, bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa: chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí.
. Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy phải cách ly bị cáo D ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
. Về vật chứng vụ án: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư dán kín ghi "210/GĐ-PC09" "Mẫu ký hiệu A" được niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu của Phòng kỹ thuật hình sự.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo Đinh Văn D: 01 xe máy hiệu SIRIUS, màu sơn đen, biển kiểm soát 73C1 – 10891, xe đã qua sử dụng.
. Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền. Xét thấy bị cáo gia đình hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về án phí: bị cáo Đinh Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Đinh Văn D phạm tội: “ tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn D 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2020.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư dán kín ghi "210/GĐ-PC09" "Mẫu ký hiệu A" được niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu của Phòng kỹ thuật hình sự.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo Đinh Văn D: 01 xe máy hiệu SIRIUS, màu sơn đen, biển kiểm soát 73C1 – 10891, xe đã qua sử dụng.
(số vật chứng trên đã đựơc chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/3/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Minh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa)
3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Đinh Văn D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/5/2020).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Bình; - TAND tỉnh Quảng Bình - CQCSĐT Công an huyện Minh Hoá; - VKSND huyện Minh Hoá; - Chi cục THADS huyện Minh Hoá; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Đinh Đức Cảnh |