vanban.org

Bản án 07/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 08/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ giám sát giáo dục nhận được bản án và quyết định thi hành án Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐỨC PHỔ
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2020/HS-ST
Ngày 08-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Kha

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hòa và ông Võ Duy Trinh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hiển– Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2020/TLST-HS ngày 27/02/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H (tên gọi khác: U) – sinh ngày 03 tháng 10 năm 1994 tại huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi

Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Q – sinh năm 1961 (chết) và bà Lê Thị C – sinh năm 1962; vợ Nguyễn Thị Hồng G – sinh năm 1993; con 02 đứa lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 19/01/2015. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

- Bà Nguyễn Thị H – sinh năm 1956 (chết).

Người đại diện hợp pháp cho người bị hại:

+ Ông Ngô Văn T - sinh năm 1954, là chồng

Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

+ Anh Ngô Anh T - sinh năm 1977, là con

Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

+ Chị Ngô Thị Kim A - sinh năm 1981, là con

Nơi cư trú: Thôn H, xã K, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

- Bà Trần Thị T - sinh năm 1955

Nơi cư trú: Thôn H, xã K, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Thương mại Vận tải T.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Thanh Đ – Giám đốc

Nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt

Người làm chứng:

- Bà Võ Thị N - sinh năm 1955

Nơi cư trú: Thôn H, xã K, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

- Bà Nguyễn Thị N – sinh năm 1951

Nơi cư trú: Thôn H, xã K, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

- Ông Đặng Đỗ M– sinh năm 1953

Nơi cư trú: Thôn H, xã K, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 13/10/2019, Nguyễn Văn H (SN 1994, trú tại A – B – S – Quảng Ngãi) điều khiển xe ô tô tải BKS 76C -049.72 lưu thông theo hướng từ Tây xuống Đông trên QL 24 (hướng Ba Tơ – Thạch Trụ, Mộ Đức). Khi đến Km 4 + 500 QL24 (đoạn chạy qua thôn H, xã K, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi) do H không tập trung chú ý quan sát phía trước, không làm chủ tay lái, đi không đúng làn đường quy định dẫn đến xe ô tô BKS 76C-049.72 lao vào lề đường phía Nam tông vào bà Nguyễn Thị H (SN 1956, trú tại thôn H, xã K) và bà Trần Thị T (SN 1955, trú cùng thôn với bà H) đang đi bộ tập thể dục cùng chiều phía trước, sát lề đường phía Nam. Hậu quả vụ tai nạn giao thông làm bà H chết tại chỗ, bà T bị thương.

Sau vụ tai nạn, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đức Phổ đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi.

Kết quả khám nghiệm hiện trường

Trục đường có phương Đông – Tây, hai bên đường là khu vực thưa dân cư. Phía Tây vị trí tai nạn là đoạn đường cong về hướng Tây Nam, phía Đông vị trí tai nạn là cầu Cháy dài 30,5m, rộng 22m, có hành lang đi bộ rộng 2,2m. Đoạn đường được chia thành hai phần đường riêng biệt phía Bắc và phía Nam, ở giữa có dải phân cách cố định và ở phía Tây vị trí xảy ra tai nạn có khoảng trống để quay đầu xe rộng 41,4m. Vị trí tai nạn thuộc phần đường phía Nam rộng 7m, ở giữa có vạch sơn trắng mờ, kẻ đứt quãng, phía Bắc có vạch sơn trắng kẻ liền. Ở lề đường phía Nam có ngã ba đường bê tông rộng 10m, tâm ngã ba cách trụ biển báo dành cho người đi bộ qua đường là 19,8m và cách tâm khoảng trống để quay đầu xe về hướng Bắc là 11m. Tại mố cầu phía Tây ở lề đường phía Nam cách trụ biển báo cầu Cháy về hướng Đông là 5,1 m.

Cách trụ biển báo chỉ dẫn dành cho người đi bộ qua đường ở lề đường phía Nam về hướng Đông Bắc 89,3m, cách mép đường phía Nam về hướng Bắc 50cm và cách mố cầu phía Tây ở mép lề đường phía Nam về hướng Tây Bắc 1,7m là vị trí đầu tử thi nữ tên Nguyễn Thị H (1), tử thi đang ở trạng thái nằm ngửa, hai tay và hai chân duỗi; tại đầu tử thi có vùng chất màu nâu đỏ đã đông (nghi máu) trong diện KT (50x45cm), chân tử thi cách mép đường phía Nam về hướng Bắc 65cm và cách trụ biển báo cầu cháy về hướng Đông Bắc là 2,3m.

Cách chân tử thi Nguyễn Thị H về hướng Tây Bắc 3,65m và cách mép đường phía Nam về hướng Bắc 1,65m là vị trí chiếc dép nhựa xỏ ngón màu đen bên trái KT (23x9)cm (2).

Cách chân tử thi Nguyễn Thị H về hướng Đông Bắc 6,4m và cách mép đường phía Nam về hướng Bắc 1,2m là vị trí chiếc dép nhựa xỏ ngón màu đen bên phải KT (23x9)cm (3).

Cách đầu tử thi Nguyễn Thị H về hướng Đông 106m và cách mép đường phía Nam về hướng Bắc 45cm là trục bánh xe trước bên phải xe ô tô 76C-049.72 (4), đầu xe quay hướng Đông Nam, mặt ngoài lốp ngoài sau cùng bên phải xe ô tô 76C-049.72 cách mép đường phía Nam về hướng Bắc là 1m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô BKS 76C-049.72

Dấu vết trên phương tiện:

- Góc phải đầu xe, tại vị trí cách đất lên 1,37m có dấu nứt nhựa, tróc sơn KT (23x11)cm, và bám dính sợi tóc.

- Góc cản trước (phải) tại vị trí cách đất lên 85cm có dấu tróc sơn, móp kim loại, bám dính vải sợi (ở vị trí cách đất lên 72cm, cách đầu cản phải qua trái 05cm), có KT (60x30)cm, hướng trượt từ trái qua phải, từ trước về sau.

- Từ góc cản trước (phải) đến trục bánh trước (phải) là 1,4m.

- Khoảng cách từ trục bánh trước (phải) đến trục bánh sau cùng (phải) là 08,6m.

- Thành thùng đo thực tế cao 2,65m; xe ô tô có KT (12,2x2,5x3,98)m.

- Hệ thống đèn, còi, phanh, gạt nước…hoạt động bình thường.

Kết quả khám nghiệm và kết luận giám định nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Thị H: Chấn thương sọ não gây tụ máu nội sọ.

Đối với thương tích của bà Trần Thị T:

Sau vụ tai nạn giao thông, bà Trần Thị T bị thương và được đưa đi điều trị tại bệnh viện. Cơ quan CSĐT điều tra Công an thị xã Đức Phổ đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà T. Tuy nhiên ngày 29/10/2019 bà Trần Thị T có đơn từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Văn H.

Cáo trạng số: 06/CT - VKS –ĐP ngày 24/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử bị cáo với mức án từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 giấy phép lái xe hạng C.

Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường cho các bị hại nên không xem xét.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thị xã Đức Phổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khai nhận chính bị cáo là người điều khiển xe ô tô 76C-049.71 theo hướng Tây – Đông khi đến Km 4 + 500 QL24 (đoạn chạy qua thôn H, xã K, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi) do không chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ, đi không đúng làn đường quy định nên gây tai nạn làm bà Nguyễn Thị H chết tại chỗ và bà Trần Thị T bị thương. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã vi phạm tại Điều 13 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết 01 người. Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét bị cáo là công dân Việt Nam có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có trình độ nhận thức về pháp luật và xã hội. Bị cáo thừa hiểu điều khiển ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, lẽ ra bị cáo phải chấp hành các quy định an toàn khi tham gia giao thông đường bộ nhưng do ý thức chủ quan, không chú ý quan sát khi tham gia giao thông đường bộ nên đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Hội đồng xét xử nghị nên xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo gây ra.

Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo cùng với chủ phương tiện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, gia đình người bị hại có đơn bãi nại, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có công các mạng và có hoàn cảnh khó khăn (Hiện bị cáo là người đang thờ cúng liệt sĩ, mẹ bị cáo bị bệnh cột sống, vợ bị cáo mới sinh con hơn 01 tháng tuổi và bị cáo là người lao động chính trong gia đình). Nên Hội đồng xét xử cần áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và cũng tạo điều kiện cho gia đình bị cáo có nơi nương tựa nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo mức án cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục, ren đe bị cáo thành người có ích cho xã hội và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Xét bị cáo lao động có thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và chủ sở hữu xe ô tô BKS 76C-049.72 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại Nguyễn Thị H số tiền 110.000.000 đồng và bồi thường cho bà Trần Thị T số tiền 17.000.000đồng. Đại diện hợp pháp của bà H và bà T đã có đơn bãi nại trách nhiệm dân sự nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 xe ô tô BKS 76C-049.72; 01 Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số KD 0325667 của xe ô tô BKS 76C-049.72 có hiệu lực đến hết ngày 15/9/2020; 01 Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 018913, xe ô tô biển số 76C-049.72; 01 Giấy biên nhận của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Dung Quất (Xe ô tô cùng với giấy tờ nêu trên thuộc sở hữu của Công ty TNHH thương mại vận tải T do Bùi Thanh Đ làm Giám đốc). Xét thấy những vật chứng trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đức Phổ đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên không xét.

- Đối với 01 Giấy phép lái xe số 510161012474 hạng C, mang tên Nguyễn Văn H do Sở GTVT tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 14/11/2016. Vì không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ giám sát giáo dục nhận được bản án và quyết định thi hành án

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường cho các bị hại nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 Giấy phép lái xe số 510161012474 hạng C, mang tên Nguyễn Văn Hải do Sở GTVT tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 14/11/2016.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H, anh Bùi Thanh Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ