- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2020/HS-ST Ngày 26 - 02 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
[
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lô Văn Vinh; Bà Võ Thị Hồng Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Trần Văn S, sinh ngày 23 tháng 02 năm 1985 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khối 6 thị trấn C, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Trương Thị T, sinh năm 1960; Vợ: Lê Thị S sinh năm 1984(đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2004; Tiền án: Ngày 21/02/2009 bị TAND huyện T xét xử 30 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 25/5/2012 bị TAND huyện C xét xử 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/12/2019 đến ngày 31/12/2019 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giam công an huyện Con Cuông; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn T - sinh năm 1985.
Địa chỉ: Khối 6 thị trấn C, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ, ngày 23/12/2019, Trần Văn S một mình đi xe máy lên bản Đ, xã L, huyệnT, tỉnh Nghệ An để mua ma túy về sử dụng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, S đi đến bản Đ, xã L, huyệnT, tỉnh Nghệ An thì gặp một người đàn ông không quen biết đứng bên đường. Gặp người đàn ông đó thì Sửu hỏi: “Có ma túy không?”, người đàn ông đó trả lời: “Có”, S nói :“Bán cho năm trăm nghìn” người đàn ông đó đồng ý và đưa cho S 01 gói bên ngoài bọc bằng mảnh bao Potylen màu đen, bên trong có 03 gói Ma túy. S cầm lấy gói ma túy trên và đưa cho người đàn ông đó số tiền 500.000 đồng. Mua ma túy xong, S điều khiển xe máy đi về nhà. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, S về đến khu vực ngã tư chợ và để xe máy một bên đường. Sau đó, S cầm số ma túy vừa mua được ở trong lòng bàn tay phải và đi bộ về nhà. Về đến nhà, S bị lực lượng Công an huyện Con Cuông tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ trên tay phải của Sửu có 01 gói bên ngoài bọc bằng mảnh bao Potylen màu đen, bên trong có 03 gói nhỏ, gồm: Gói thứ nhất bên ngoài được gói bằng mảnh bao Potylen màu đen, bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là Heroine),gói thứ hai bên ngoài gói bằng bao Potylen màu xanh bên trong có chứa 20 viên nén màu đỏ (nghi là ma túy tổng hợp), gói thứ ba bên ngoài gói bằng bao Potylen màu xanh bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp). Lực lượng Công an huyện Con Cuông đã tiến hành niêm phong vật chứng, lập biên bản và đưa đối tượng về trụ sở Công an huyện Con Cuông để làm việc.
Ngày 23 tháng 12 năm 2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Con Cuông đã tiến hành lập hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu đi giám định số ma túy thu giữ của Sửu gồm:
+ Khối lượng toàn bộ gói thứ nhất chứa chất bột màu trắng có khối lượng: 0,65 gam, hội đồng đã lấy 0,45 gam gửi đi giám định (Ký hiệu M1).
+ Khối lượng toàn bộ gói thứ hai chứa 20 viên nén màu đỏ thu giữ có khối lượng: 2,0 gam, hội đồng đã lấy 0,05 gam gửi đi giám định (Ký hiệu M2).
+ Khối lượng toàn bộ gói thứ ba chứa các hạt tinh thể màu trắng thu giữ có khối lượng: 0,6 gam, hội đồng đã lấy 0,3 gam gửi đi giám định (Ký hiệu M3).
Tại kết luận giám định số 73/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 30/12/2019 của phòng KTHS - Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M1) thu giữ của Sửu gửi tới giám định là chất ma túy (Heroine); Mẫu viên nén màu đỏ (Ký hiệu M2) thu giữ của S gửi tới giám định là ma túy Methamphetamone; Mẫu các hạt tinh thể màu trắng (Ký hiệu M3) thu giữ của S gửi tới giám định là ma túy Methamphetamone có tổng khối lượng là 0,6 gam.
Cáo trạng số: 07/CT - VKS - HS ngày 12/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông truy tố bị cáo Trần Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o, khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bản thân bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm o, khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn S từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo; tịch thu, tiêu hủy toàn bộ vật chứng; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
- Trong quá trình điều tra: Cơ quan điều tra, Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.
- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.
- Bị cáo, người chứng kiến không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên được sử dụng làm chứng cứ đề Hội đồng xét xử xem xét.
Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Văn S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 23/12/2019, tại khối 6 thị trấn C, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Trần Văn S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,65 gam Heroine và 2,6 gam Methamphetamine với mục đích là để sử dụng. Căn cứ vào Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 thì số Heroine thu giữ của Trần Văn S có khối lượng là 0,65 gam, số Methamphetamine thu giữ là 2,6 gam, tổng khối lượng của cả hai chất ma túy là 3,25 gam, do đó trong trường hợp này tổng khối lượng của hai chất ma tuý Heroine và Methamphetamine thuộc trường hợp được quy định tại 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, nhưng do bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý là tình tiết định khung hình phạt tái phạm nguy hiểm. Như vậy hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết tội bị cáo S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hôi, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, không những gây mất trật tự trị an trên địa bàn mà còn gây tác hại về sức khỏe cho con người, làm suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình và tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Hơn nữa bị cáo đã được chính quyền địa phương giáo dục và bồi dưỡng nhận thức về tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn không chịu tu dưỡng, sửa chữa lối sống buông thả, hủy hoại bản thân và tiếp tục tái sử dụng ma túy; hành vi của bị cáo đã làm mất tác dụng và ý nghĩa nhân đạo của chính sách hỗ trợ người nghiện ma túy cai nghiện, tái hòa nhập cộng đồng của Đảng và Nhà nước.Vì vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo lao động, cải tạo trở thành người có ích cho gia đinh và có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là hình phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, tài sản không có nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra S khai nhận số ma túy bị lực lượng công an thu giữ ngày 23/12/2019 là S mua của một người đàn ông không quen biết ở bản Đ,xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An. Hiện cơ quan điều tra chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ của người đàn ông đó Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau.
Về vật chứng: 0,2 gam Hêrôin; 15 viên nén màu đỏ là ma túy tổng hợp có khối lượng 1,5 gam; 0,3 gam các hạt tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp; 07 bao Potylen; 01 phong bì thư đã mở niêm phong là những vật nhà nước cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o, khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn S 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/12/2019.
- Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: Một phong bì thư bưu điện, loại đang lưu hành, xung quanh có viền xanh đỏ đã được niêm phong, bên trong có: 02 mảnh bao Pôtylen màu xanh; 02 mảnh bao Pôtylen màu đen; 01 mảnh bao Pôtylen màu trắng bên trong chứa 0,2 gam chát bột màu trắng (Hê rô in); 01 mảnh bao Pôtylen màu trắng bên trong chứa 15 viên nén màu đỏ là ma túy tổng hợp có khối lượng 1,5 gam (ký hiệu M2); 01 mảnh bao Pôtylen màu trắng bên trong chứa 0,3 gam các hạt tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp(ký hiệu M3); 01 phong bì thư bưu điện đã mở niêm phong.
Các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2020 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Con Cuông và Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Văn S phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Con Cuông; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; - CQĐT Công an huyện Con Cuông; - CQTHAHS huyện Con Cuông; - CCTHADS huyện Con Cuông; - Lưu HS, VP Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Lợi HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Phan Hồng Lợi |