- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lương Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2020/HS-ST Ngày 03/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đô.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Lan;
2. Ông Bùi Tấn Sinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, t nh uảng Ng i tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Khôi - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2020/HSST ngày 26 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2020 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự số 184/TB-TA ngày 23 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Lương Văn H, sinh ngày 19/5/1973 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm X, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Lương H M, bà Nguyễn Thị M; có vợ là Đỗ Thị Th; có 02 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 23/6/2020 đến ngày 02/7/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Đinh Văn M, sinh năm 1986 (đã chết); người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Đinh Thị A, sinh năm 1968 và chị Đinh Thị Th, sinh năm 1988; người đại diện theo ủy quyền của bà A, chị Th: Anh Đinh Quang M, sinh năm 1989; cùng nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần Vận tải D; trụ sở: Lô A6 đường D3-N1 Khu Công nghiệp H, thành phố N, tỉnh Nam Định; người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Mạnh Kh, chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc công ty; nơi cư trú: Số 697 đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hải Linh H, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn V, xã Ph, huyện T, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Đinh Văn B, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
- Các cháu Đinh Quốc Kh, sinh ngày 26/10/2012, Đinh Quốc B, sinh ngày 08/12/2014 và Đinh Quốc L, sinh ngày 08/01/2018; người đại diện theo pháp luật cho cháu Kh, B, L: Chị Đinh Thị Th, sinh năm 1988; người đại diện theo ủy quyền của chị Th: Anh Đinh Quang M, sinh năm 1989; cùng nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 23/6/2020, bị cáo Lương Văn H (sau đây viết tắt là H) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 18C-071.XX lưu thông trên tuyến đường nút 1A Nhà máy đóng tàu Dung Quất đi thôn S, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Khi điều khiển xe qua khỏi ngã tư khoảng 200m hướng về phía bắc (thuộc thôn S, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi) thì H điều khiển xe chạy lấn sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 76M1-075.XX do Anh Hải Linh H (sau đây viết tắt là anh H) điều khiển đi ngược chiều chở Anh Đinh Văn M (sau đây viết tắt là anh M) phía sau, hậu quả làm anh M chết trên đường đi cấp cứu, anh H bị thương tích nhẹ. Sau khi tai nạn xảy ra H đến Công an huyện Bình Sơn đầu thú.
Bản kết luận giám định số 469/KLGĐ-PC09 ngày 26/6/2020, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận nguyên nhân chết của anh M là do đa thương tích, chấn thương sọ não, rạn nứt xương hộp sọ, xuất huyết não dẫn đến chết.
Bản cáo trạng số 938/CT-VKS-BS, ngày 16/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi truy tố H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; về dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong về dân sự, đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì; về vật chứng đã xử lý xong nên không đề nghị giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo H thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội, không oan, tuy nhiên cho rằng mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là cao vì bị cáo có con còn nhỏ, nuôi mẹ già, bị cáo đang bị bệnh tật; tranh luận với ý kiến nêu trên của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn vẫn giữ quan điểm như đã đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận hành vi phạm tội như mô tả trong cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo H là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đã có giấy phép lái xe hạng C, đủ điều kiện để điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 18C-071.XX; ngày 23/6/2020, H điều khiển xe ô tô 18C-071.XY lưu thông trên tuyến đường nút A1 nhà máy đóng tàu Dung Quất đi thôn S, xã B đi không đúng phần đường, lấn sang phần đường của xe lưu thông hướng ngược chiều (vi phạm khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ) dẫn đến va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 76M1-075.XZ do anh H điều khiển chở theo phía sau anh M, hậu quả làm anh M chết.
Hành vi nêu trên của bị cáo H đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo H thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả, ngay sau khi xảy ra vụ án bị cáo đầu thú tại cơ quan điều tra, đại diện hợp pháp của bị hại có đề nghị giảm nhẹ hình phạt và hiện nay bị cáo đang điều trị bệnh nhồi máu bán cầu não phải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo H có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định tại mục [3] nêu trên, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và cũng không thuộc một trong các trường hợp không cho hưởng án theo quy định tại Điều 3 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải bắt bị cáo H chấp hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mà chỉ cần cho bị cáo được hưởng án treo và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh và phòng chống tội phạm; mặt khác, cũng thể hiện sự khoan hồng đối với bị cáo để bị cáo có điều kiện tiếp tục điều trị bệnh nhồi máu bán cầu não phải.
Về dân sự:
Quá trình điều tra, bị cáo H và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận được về việc giải quyết dân sự và bị cáo đã thực hiện xong thỏa thuận dân sự, cụ thể đã bồi thường chi phí cấp cứu, chi phí mai táng, tiền tổn thất về mặt tinh thần, tiền nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh M với tổng số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng); đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án này.
Đối với anh H chỉ bị thương tích nhẹ; bị cáo H và anh H đã thỏa thuận về việc bị cáo có nghĩa bồi thường chi phí cấp cứu, điều trị, tiền xe đi lại và tiền mất thu nhập với tổng số tiền là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng); anh H đã nhận đủ số tiền nêu trên và không có yêu cầu gì khác trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô 18C-071.XX cho Công ty Cổ phần Vận tải D (chủ sở hữu xe); trả xe mô tô 76M1-075.XY cho Anh Đinh Văn B (chủ sở hữu xe); trả lại 01 (một) giấy phép lái xe số 360039570029 mang tên Lương Văn H cho bị cáo H là phù hợp với quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn về tội danh, hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và đề nghị về các vấn đề khác trong vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUY T ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lương Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Lương Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3. Giao bị cáo Lương Văn H cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Lương Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Bình Sơn; - CQCSĐT và Bộ phận HSNV Công an huyện Bình Sơn; - CCTHADS huyện Bình Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - UBND xã Bạch Long, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Đô |