vanban.org

Bản án 07/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hoàng Văn H đối với bị đơn chị Lê Thị V về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn H được ly hôn với chị Lê Thị V (Giấy chứng nhận kết hôn số 78/2003, ngày 15/12/2003 do Uỷ ban nhân dân xã E, huyện G, tỉnh Nghệ An cấp). Về con chung: Giao con chung Hoàng Lê Khánh N, sinh ngày 22/02/2004 cho anh Hoàng Văn H trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Hoà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hoàng Văn H đối với bị đơn chị Lê Thị V về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 07/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 27-3-2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Tú Nhi;

2. Ông Tô Văn Nhung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Bương.

- Đại diê ên Viê ên Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1182/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2019 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/02/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2020/QĐST-HNGĐ ngày 09/3/2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1979; thường trú: Số 28/37/11 (số cũ 82/25), hẻm tổ 23, đường A, khu phố B, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Chị Lê Thị V, sinh năm 1981; thường trú: Số 28/37/11 (số cũ 82/25), hẻm tổ 23, đường A, khu phố B, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương.

(Anh Hoàng Văn H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, chị Lê Thị V vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/11/2019 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Hoàng Văn H trình bày:

Anh Hoàng Văn H và chị Lê Thị V tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2003, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã E, huyện G, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 78/2003, ngày 15/12/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến giữa năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, không còn chăm sóc lẫn nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2018 cho đến nay. Anh Hoàng Văn H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị V.

Về con chung: Quá trình chung sống, anh Hoàng Văn H và chị Lê Thị V có hai con chung là Hoàng Lê Khánh N, sinh ngày 22/02/2004 và Hoàng Anh T, sinh ngày 01/4/2016. Hiện nay cháu N đang sống với anh H, còn cháu T đang sống với chị V. Sau khi ly hôn, anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hoàng Lê Khánh N và giao con chung Hoàng Anh T cho chị V nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Tự thỏa thuận, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn chị Lê Thị V: Quá trình tố tụng, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn để làm việc, viết bản tự khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, bị đơn cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại bản tự khai ngày 17/12/2019, cháu Hoàng Lê Khánh Ng trình bày: Ba mẹ cháu N đã ly thân khoảng 01 năm. Hiện nay cháu N đang sống với ba, trường hợp Tòa án giải quyết cho ba mẹ ly hôn thì cháu N muốn sống với ba.

- Ngày 24/12/2019, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa anh Hoàng Văn H và chị Lê Thị V tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường D và được cung cấp như sau: Hội Liên hiệp phụ nữ phường D không nhận được đơn đề nghị hòa giải quan hệ hôn nhân giữa anh Hoàng Văn H và chị Lê Thị V. Đồng thời Hội Liên hiệp phụ nữ phường D cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai anh chị, do đó không biết rõ giữa hai anh chị có mâu thuẫn như thế nào, vấn đề con chung, công việc và thu nhập Hội Liên hiệp phụ nữ phường D cũng không biết nên không cung cấp được thông tin cho Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nguyên đơn anh Hoàng Văn H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn chị Lê Thị V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn H và chị Lê Thị V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã E, huyện G, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 78/2003 ngày 15/12/2003 đúng với quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo nguyên đơn anh Hoàng Văn H trình bày thì giữa vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, không còn chăm sóc lẫn nhau. Anh H và chị V sống ly thân từ tháng 8/2018 cho đến nay.

Xét thấy, Tòa án đã triệu tập chị V có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến nhằm hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị V không đến và cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của anh H. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị V đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cả hai bên đều không muốn hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhâ ân.

Về con chung: Quá trình chung sống, anh H và chị V có hai con chung là Hoàng Lê Khánh N, sinh ngày 22/02/2004 và Hoàng Anh T, sinh ngày 01/4/2016. Anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và giao cháu T cho chị V nuôi dưỡng.

Tòa án đã triê âu tâ âp chị V để trình bày ý kiến về con chung nhưng chị V vắng mă ât không có lý do trong suốt quá trình tố tụng. Điều 81 Luâ ât Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “2. Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con…trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con…”. Xét cháu Hoàng Lê Khánh N đang sống ổn định với anh H; đồng thời cháu N cũng có nguyên vọng được sống với ba nên yêu cầu của anh H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyên là phù hợp, đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt của con nên có căn cứ chấp nhận. Đối với cháu Hoàng Anh T đang ở với mẹ, cháu T còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ để đảm bảo được sự phát triển tốt hơn. Do vậy, cần giao cháu Hoàng Anh T cho chị Lê Thị V trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Nghĩa vụ nuôi con là của cả cha lẫn mẹ, khi ly hôn, người không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H và chị V mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng một con chung nên xét không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An về quan điểm giải quyết vụ án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Hoàng Văn H phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hoàng Văn H đối với bị đơn chị Lê Thị V về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn H được ly hôn với chị Lê Thị V (Giấy chứng nhận kết hôn số 78/2003, ngày 15/12/2003 do Uỷ ban nhân dân xã E, huyện G, tỉnh Nghệ An cấp).

- Về con chung: Giao con chung Hoàng Lê Khánh N, sinh ngày 22/02/2004 cho anh Hoàng Văn H trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Hoàng Anh T, sinh ngày 01/4/2016 cho chị Lê Thị V trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn, anh Hoàng Văn H và chị Lê Thị V có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai được cản trở Hoàng Văn H, chị Lê Thị V thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Hoàng Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0039802 ngày 12/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

4. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự .

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ