vanban.org

Bản án 07/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị G - Đào Văn L"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 07/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 11-6-2020
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Rê;

2. Ông Nguyễn Tấn Rỏn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện H, tỉnh Long An.

Ngày 11 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 291/2019/TLST-HNGĐ ngày

13 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra

xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2020 giữa các đương

sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G - Sinh năm 1976 - Địa chỉ: ấp 2, xã BHN,

huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Đào Văn L - Sinh năm 1973 - Địa chỉ: ấp 2, xã BHN, huyện

H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 11 năm 2019, các văn bản tiếp theo,

nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày và yêu cầu: Bà và ông Đào Văn L cưới

nhau năm 2002, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BHN, huyện H, tỉnh Long

An ngày 25-12-2002; Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do ông L có quan

hệ với phụ nữ khác, thường ngược đãi bà, hiện ông bà vẫn sống chung nhà nhưng

không quan tâm chăm sóc nhau như đã ly thân 4 năm.

Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Đào Văn L;

Về con chung: Có 02 con chung là Đào Thị S, sinh ngày 25-01-1993 và Đào

Văn T, sinh ngày 08-01-2006. Con chung là Đào Thị S đã thành niên không yêu cầu

giải quyết. Bà yêu cầu được quyền nuôi con chung Đào Văn T, không yêu cầu ông L cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ngày 19-02-2020, bà Nguyễn Thị G có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Bị đơn là ông Đào Văn L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do,

nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Nguyễn Thị G khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Đào Văn L, Tòa án nhân

dân huyện H tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà G có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của

bà G theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn là ông Đào Văn L được tống

đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ông, không có mặt để tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà G theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, ông L không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa, vì ông không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương

sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Xét về hôn nhân:

Bà G và ông L chung sống có đăng ký kết hôn ngày 25-12-2002 tại Ủy

ban nhân dân xã BHN, huyện H, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà G và ông L là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà G: Bà G không đưa ra được tài liệu, chứng

cứ chứng minh trình bày và yêu cầu của bà là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, xét bà G và ông L xảy ra mâu thuẫn và không quan tâm chăm sóc nhau (như đã ly thân) 4 năm (theo trình bày của bà G), hiện bà G và ông L vẫn tự mỗi người lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc nhau. Mâu thuẫn giữa bà G và ông L đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà G yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên chấp nhận. Ông L không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.

Về nuôi con chung:

Bà G và ông L có 02 con chung (đang sống chung với ông bà) là Đào

Thị S, sinh ngày 25-01-1993 và Đào Văn T, sinh ngày 08-01-2006.

Con chung là Đào Thị S đã thành niên, bà G không yêu cầu giải quyết là

phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Đào Văn T. Bà G không

đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của bà là có căn cứ và hợp

pháp. Tuy nhiên, xét nguyện vọng con chung muốn sống với bà G nên chấp nhận

cho bà G trực tiếp nuôi là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia

đình năm 2014.

Xét con chung đang sống chung với bà G ông L, nên ông L có nghĩa vụ

giao con chung cho bà G trực tiếp nuôi kể từ khi án có hiệu lực pháp luật là phù

hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Ông L không có ý kiến về nuôi con chung nên không có căn cứ xem

xét.

Xét bà G không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, phù

hợp quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

Ông L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi

ích của con chung, bà G và ông L được quyền yêu cầu thay đổi trình trạng nuôi con

chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 83,

84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà G trình bày không có, không yêu

cầu Tòa án giải quyết, ông L không có ý kiến, nên không đề cập giải quyết; Nếu xảy

ra tranh chấp, đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của

pháp luật tố tụng dân sự.

Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét

thấy: Bà G là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án

phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân

sự sơ thẩm đã nộp, bà G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm; Ông L không phải chịu

án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản

lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Đào Văn L.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Con chung là Đào Thị S, sinh ngày 25-01-1993, đã thành niên, không có

yêu cầu, không đề cập giải quyết.

2.2. Bà Nguyễn Thị G được trực tiếp nuôi con chung tên Đào Văn T, sinh ngày

08-01-2006, đang sống chung với bà G ông L, theo nguyện vọng của con chung. Ông Đào Văn L có nghĩa vụ giao con chung Đào Văn T cho bà Nguyễn Thị G trực tiếp nuôi kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.

2.3. Ghi nhận sự tự nguyện của đương sự: Ông Đào Văn L không phải cấp

dưỡng nuôi con chung Đào Văn T.

2.4. Ông L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi

ích của con chung, bà G và ông L được quyền yêu cầu thay đổi trình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ

án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn

đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0004849 ngày 13-12-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, bà G đã nộp đủ án phí.

5. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc

thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ