vanban.org

Bản án 07/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Đào Văn L. Về con chung: Giao 02(hai) con chung tên Đào Thị Kim T, sinh ngày 21/6/2006 và Đào Trọng K, sinh ngày 17/10/2012 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Anh Đào V… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐỐP
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07 /2020/HNGĐ-ST
Ngày: 28/7/2020
“V/v: Tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP-TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngguyễn Quang Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Đình Minh

Bà: Điểu Thị Hương

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lý Văn Hơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Hoàng – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 48/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1984(vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: anh Đào Văn L, sinh năm: 1977(vắng mặt, không có lý do)

Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn yêu cầu ly hôn và các biên bản làm việc, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị N và anh L kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước vào năm 2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị N và anh L chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020, thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống và nhiều vấn đề khác không đồng thuận nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân là do tính tình hai vợ chồng không hòa hợp và cũng do kinh tế không ổn định nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Do đó, anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2020 đến nay, vợ chồng không còn yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N nhận thấy, vợ chồng không còn tình cảm, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng nên chị Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào văn L.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị N và anh L có 02(hai) con chung tên Đào Thị Kim T, sinh ngày 21/6/2006 và Đào Trọng K, sinh ngày 17/10/2012. Chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02(hai) con chung cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh L cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đào Văn L vắng mặt tại các buổi làm việc, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh L vẫn vắng mặt nên không có trình bày gì.

Tại các biên bản lấy lời khai giữa Tòa án nhân dân huyện B với mẹ ruột của anh Đào Văn L là bà Nguyễn Thị H, bà cho biết vợ chồng anh L và chị N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương, trong quá trình chung sống giữa anh L và chị N luôn xảy ra cãi vã lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2020 đến nay. Hiện nay, con chung đang sống cùng với chị Nguyễn Thị N, cuộc sống ổn định và học tập tốt.

Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trong đơn ly hôn của chị.

Bị đơn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước phát biểu tại phiên tòa.

- Về việc tuân theo pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Đào Văn L và giao 02(hai) con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa và thông qua nghị án, HĐXX nhận định

Về pháp luật tố tụng:

Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N thuộc trường hợp “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn đang cư trú và có đăng ký hộ khẩu tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước.

Anh Đào Văn L vắng mặt tại các buổi làm việc, các phiên hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã tiến hành các thủ tục xác minh, giao nhận văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn theo quy định của pháp luật, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.

Chị Nguyễn Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt.

Về nội dung:

Chị Nguyễn Thị N và anh Đào Văn L kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước vào năm 2005, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị N và anh L chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống và nhiều vấn đề khác không đồng thuận nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng hai cãi vã nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2020 cho đến nay. Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Đào văn L đã lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị N và anh L có 02(hai) con chung tên Đào Thị Kim T, sinh ngày 21/6/2006 và Đào Trọng K, sinh ngày 17/10/2012. Hiện nay các cháu đang đi học và có cuộc sống ổn định cùng với chị Nguyễn Thị N, tại biên bản tự ghi lời khai cháu T và cháu K, cả hai cháu đều có nguyện vọng được sống chung với chị Nguyễn Thị N. Căn cứ vào Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và để đảm bảo sự sinh hoạt phát triển bình thường về mọi mặt của trẻ, cần giao 02(hai) con chung tên Đào Thị Kim T và Đào Trọng K cho chị Nguyệt tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 232 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Áp dụng khoản 4 Điều 147; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH của Ủy ban thường vụ quốc hội;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Đào Văn L.

2. Về con chung: Giao 02(hai) con chung tên Đào Thị Kim T, sinh ngày 21/6/2006 và Đào Trọng K, sinh ngày 17/10/2012 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Anh Đào Văn L được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị N đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Phước theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0017205 ngày 02/3/2020.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niên yết công khai.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ