- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Cấp tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 07/2019/HSST Ngày: 27 - 02 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Mấng và bà Nguyễn Thị Việt Hà;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú, là Kiểm sát viên;
Ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2019/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2019 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Văn C;
Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 04 tháng 01 năm 1966, tại Thái Bình;
Nơi cư trú: Tổ dân phố 07, phường H, thành phố Đ, tỉnh B;
Nghề nghiệp: Không;
Trình độ văn hóa: 7/10;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Bùi Thị T;
Vợ: Nguyễn Thị A; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1998;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Không;
Bị tạm giữ từ ngày 25 tháng 10 năm 2018, sau đó bị tạm giam, đến ngày 22/01/2019 được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh; Có mặt.
Nhân thân: Sử dụng ma túy nhiều năm.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 25/10/2018, tại khu vực tổ dân phố 07, phường H, thành phố Đ; Công an thành phố Đ bắt quả tang bị cáo Nguyễn Văn C cất giấu trong tất bên trái, đang đi của mình một viên nén mầu hồng, được gói bằng nilon trắng và giấy màu vàng. Bị cáo khai đó là Hồng phiến, bị cáo mua của một người không quen biết với giá 100.000 đồng, để sử dụng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi tàng trữ ma túy của mình như đã nêu trên.
2. Các vấn đề khác:
Kết luận giám định số 35/GĐ-PC09 ngày 01/11/2018 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu viên nén mầu hồng gửi giám định có khối lượng 0,1 gam; là chất ma túy loại Methamphetamine, nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 323, mục IIC, danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ; sau giám định, niêm phong và hoàn lại 0,07 gam mẫu vật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.
3. Việc truy tố và đề nghị của của Viện kiểm sát:
Bản cáo trạng số 12/CT-VKS-TPĐBP ngày 29/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố; bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; vật chứng giải quyết theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ Phủ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh bị truy tố:
Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 25/10/2018, tại tổ dân phố 07, phường H, thành phố Đ, tỉnh B; bị cáo Nguyễn Văn C đã cất giữ 0,1 gam Methamphetamine tại tất chân bị cáo đang đi, với mục đích để sử dụng và bị bắt quả tang.
Theo khoản 1 Điều 249 BLHS thì: Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển...thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...c)...Methamphetamine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điều luật đã viện dẫn ở trên.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người sử dụng ma túy đã nhiều năm, mặc dù biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn cố tình thực hiện, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung. Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình theo điểm, khoản tương ứng quy định tại Điều 51 BLHS đối với bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; mức hình phạt và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở để chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 BLHS quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy: Bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp, sống phụ thuộc vào vợ; do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng: Tịch thu để hủy 01 mảnh giấy, 01 mảnh ni lon và số Methamphetamine còn lại sau giám định do nhà nước cấm lưu hành.
Các vấn đề khác: Quá trình điều tra đã tạm giữ một xe máy, một điện thoại và và 228.000 đồng của bị cáo. Xác định chiếc xe máy là của bà vợ bị cáo; điện thoại, tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định của pháp luật, nên không đề cập xử lý.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về lệ phí và án phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù; khấu trừ cho bị cáo 90 ngày (quy đổi bằng 03 tháng) bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 25/10/2018 đến ngày 22/01/2019); bị cáo còn phải thi hành 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
3. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a và c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu để hủy 0,07 gam Methamphetamine, 01 mảnh giấy màu vàng và một mảnh nilon màu trắng (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 02 năm 2019 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra).
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/02/2019).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát TP.ĐBP; - Viện kiểm sát tỉnh ĐB; - Cơ quan CSĐT công an TP.ĐBP; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Trại tạm giam; - Đội HSNVCS Công an TPĐBP; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ; - HS Thi hành án HS; - Chi cục Thi hành án DS TPĐBP; - TAND tỉnh ĐB; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |