vanban.org

Bản án 07/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 21/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án HS Lê Đức H - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tßa ¸n nh©n d©n
HuyÖn ®
TØNH QU¶NG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***
B¶n ¸n sè: 07/2019/HS-ST
Ngµy: 21/5/2019

nh©n danh

n íc céng hßa x· héi chñ nghÜa viÖt nam

***

Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn §, TỈNH QUẢNG NAM

- Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö sơ thẩmgåm cã:

+ ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa: Ông Huỳnh Văn Phú

+ Héi thÈm nh©n d©n:¤ng Nguyễn Công Hiền và ông Lê Văn Cương

- Th ký phiªn tßa: Bµ Lê Thị Nguyệt Sương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

- §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn §¹i Léc, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thương Tín - KiÓm s¸t viªn.

Ngày 21 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Đức H (R), sinh ngày 10 tháng 7 năm 1992; sinh, trú quán: Thôn Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh;tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Không; con ông Lê O (chết)và bà Đào Thị N (sinh năm: 1968); chưa có vợ;tiền án,tiền sự: Chưa. Tạm giữ: 23/01/2019, tạm giam: 25/01/2019. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

Lê Đức K, sinh năm 1989, trú tại: Thôn Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt. NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/01/2019, Lê Đức H dùng điện thoại của mình điện thoại cho một người đàn ông tên L (không rõ lai lịch) hỏi mua ma túy để sử dụng, khoảng 21 giờ cùng ngày, H đón xe Taxi từ Đ ra Hòa Khánh, thành phố Đà Nẵng, mua của L một gói ma túy (dạng đá) giá 1.000.000 đồng. H đem gói ma túy này về nhà sử dụng một ít, còn lại để trên bàn trong phòng ngủ của mình. Đến 09 giờ 00 ngày 23/01/2019, khi H đang chuẩn bị lấy ma túy để sử dụng thì Công an huyện Đ bắt quả tang và tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ trên bàn trong phòng ngủ của của H 01 gói ni lông chứa ma túy. Ngoài ra, còn thu giữ 01 điện thoại di động Iphone 4; 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy.

Theo kết luận giám định số 81/C09C(Đ4) ngày 25/01/2019 của Phân viện KHHS Bộ Công an tại thành phố Đà Nẵng xác định: “Chất rắn màu trắng (dạng tinh thể) trong 01 gói ni lông không màu, miệng túi có viền đỏ gửi giám định đều là ma túy, có khối lượng mẫu 1,756gam, loại Methamphetamine”.

Tại Bản cáo trạng số 09/CT-VKĐL ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Lê Đức Hvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKS giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, xử phạt bị cáo Lê Đức H mức án từ 24tháng đến30tháng tù.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Đức H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Người làm chứng khai nhận đã chứng kiến sự việc đúng như lời khai của bị cáo.

Vật chứng của vụ án:

+1,756 gam chất ma túy (dạng tinh thể) loại Methamphetamine, sau khi giám định, mẫu vật hoàn trả lại là 1,605 gam chất ma túy (dạng tinh thể) và bao gói, được niêm phong trong 01 phong bì số 81/C09C(Đ4), có dấu của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Đà Nẵng;

+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 ống thủy tinh màu trắng kích thướt 0,5 cm x 13 cm, một đầu có hình dạng phễu, 01 ống nhựa màu trắng kích thướt 0,5 cm x 24 cm, 01 bình thủy tinh kích thướt 04 cm x 24 cm;

+ 01 điện thoại Iphone 4, màu trắng đã qua sử dụng, bể mặt sau, bên trong có sim số 0777595756.

(Các vật chứng đã niêm phong và đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam đã tuy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, vật chứng vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có cơ sở xác định được: Khoảng 09giờ 00 phút ngày 23/01/2019, tại nhà của Lê Đức H (thôn Q, xã A, huyện Đ), bị cáo Lê Đức H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, có trọng lượng 1,756gam chất ma túy, loại Methamphetamine.

Do đó, bị cáo Lê Đức H đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố là có cơ sở.

Chúng ta đều biết rằng chất ma túy là độc chất gây nghiện có hại cho sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra nhiều hậu quả khó lường cho xã hội. Vì vậy, nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo Lê Đức H là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi,biết rõ tác hại của chất ma túy cũng như quy định của pháp luật, nhưng để thoả mãn cơn nghiện, bị cáo đã có hành vi mua và tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng với trọng lượng vượt nhiều lần mức quy định của pháp luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội.

Trên địa bàn huyện Đ hiện nay đang xuất hiện nhiều loại tội phạm về ma túy và có xu hướng ngày càng gia tăng, xâm phạm nghiêm trọng trật tự trị an trên địa bàn huyện, gâybất ổn trong cộng đồng dân cư và làm cho nhân dân hoang mang lo lắng, do đó, cần xử lý bị cáo một cách nghiêm minh để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để ren đe và ngăn ngừa tội phạm.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo nhận tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; có ông nội (ông Lê Â) và ông ngoại (ông Đào Duy U) là liệt sĩ. Do đó, HĐXX áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo trong khi lượng hình.

Đối với người đàn ông tên L(bán ma túy cho Lê Đức H)ởthành phố Đà Nẵng, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành điều tra nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên khi nào xác định được sẽ xử lý sau là phù hợp.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS, xử lý vật chứng như sau:

+ Đối với 1,605 gam chất rắn màu trắng (dạng tinh thể) và bao gói, được niêm phong trong 01 phong bì số 81/C09C(Đ4), có dấu của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Đà Nẵng (mẫu vật hoàn trả sau giám định); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 ống thủy tinh màu trắng kích thướt 0,5 cm x 13 cm, một đầu có hình dạng phễu, 01 ống nhựa màu trắng kích thướt 0,5 cm x 24 cm, 01 bình thủy tinh kích thướt 04 cm x 24 cm; 01 thẻ sim số 077759575, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 điện thoại Iphone 4, màu trắng đã qua sử dụng, bể mặt sau, thuộc sở hữu của bị cáo nhưng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

(Các vật chứng đã niêm phong và đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QuyÕt ®Þnh:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51BLHS2015; Điều 106 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội.

- Tuyên bố:Bị cáoLê Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Xử phạt: Bị cáo Lê Đức H 01 (Một) năm, 09 (Chín) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 23/01/2019.

- Về vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau: 1,605 gam chất rắn màu trắng (dạng tinh thể) và bao gói, được niêm phong trong 01 phong bì số 81/C09C(Đ4), có dấu của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Đà Nẵng (mẫu vật hoàn trả sau giám định); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 ống thủy tinh màu trắng kích thướt 0,5 cm x 13 cm, một đầu có hình dạng phễu, 01 ống nhựa màu trắng kích thướt 0,5 cm x 24 cm, 01 bình thủy tinh kích thướt 04 cm x 24 cm; 01 thẻ sim số 077759575, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 4, màu trắng (đã qua sử dụng, bể mặt sau). (Các vật chứng trên đã được niêm phong và tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).

- Về án phí: Buộc bị cáo Lê Đức H phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong th ời hạ n 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ