vanban.org

Bản án 07/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 06/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 08/10/2018. * Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2019/HSST
Ngày: 06/03/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Cẩm Tiên

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Trương Hoàng Hoa

+ Ông Ngô Minh Ngọc

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Ngân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên toà: Bà Lý Nguyễn Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2019/HSST ngày 31 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN A - sinh ngày 17/02/1993; tại: tỉnh Tiền Giang.

- Nơi cư trú: Phường N, thành phố Y, tỉnh Tiền Giang; số CMND: 312138584; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: 01. Ngày 14/11/2017 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời gian 03 tháng theo Quyết định số 682/QĐ-UBND ngày 14/11/2017 của Ủy ban nhân dân Phường N, thành phố Y. Ngày 14/2/2018 bị cáo chấp hành xong. Bị cáo bị tạm giữ ngày 08/10/2018, chuyển sang tạm giam ngày 11/10/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thị Ngọc D - sinh năm 1968 (Có mặt)

Địa chỉ: Phường N, thành phố Y, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 08/10/2018, tại quán cà phê sân vườn E thuộc ấp M, xã N1, huyện X, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy – Công an huyện Chợ Gạo phối hợp phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh Tiền Giang bắt quả tang bị cáo Nguyễn Văn A đang cất giấu 03 gói nylon màu trắng, viền đỏ (01 gói lớn, 02 gói nhỏ), bên trong có chứa tinh thể trong suốt ( nghi là ma túy đá).

Theo bảng Kết luận giám định số 183/KLGĐ-PC09 ngày 11/10/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: các mẫu tinh thể trong suốt trong 03 gói ny lon màu trắng, viền đỏ (01 gói lớn, 02 gói nhỏ) được hàn kín, để trong một gói màu trắng được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn A ( người bị bắt), Cao Quốc Thái ( người chứng kiến), Lê Văn Nguyên (Kiểm sát viên) và Võ Tuấn Kiệt (Điều tra viên) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 5,0341 gam loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra bị cáo A khai nhận khoảng 09 giờ ngày 8/10/2018 bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 63B7-089.89 đến địa bàn huyện Y1, tỉnh Long An mua ma túy của một người thanh niên không biết họ tên, địa chỉ với giá là 2.700.000 đồng. Sau khi mua bị cáo cất giấu ma túy vào trong nón bảo hiểm đội lên đầu rồi điều khiển xe mô tô đến địa bàn huyện Chợ Gạo để sử dụng cùng với người bạn tên E1 (không rõ họ tên, địa chỉ). Khi đến điểm hẹn tại quán cà phê sân vườn E bị cáo chưa gặp E1 thì bị lực lượng công an kiểm tra và bắt quả tang.

Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra không xác minh được đối tượng bán ma túy cho bị cáo A và đối tượng E1 do bị cáo quen biết đối tượng này thông qua mạng xã hội, không biết họ tên, địa chỉ cụ thể.

Vật chứng trong vụ án:

- Một xe mô tô biển số 63B7-089.89 do chị Nguyễn Thị Ngọc D đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan cảnh sát điều tra – công an huyện Chợ Gạo đã trao trả xe cho chị D.

- Một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 183 ghi ngày 11 tháng 10 năm 2018, có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Thị Kiều Linh (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Võ Tuấn Kiệt (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có một gói nylon màu trắng được dán kín chứa 4,6092 gam là ma túy còn lại sau giám định loại Methamphetamine, 01 gói giấy màu trắng, 03 vỏ bao gói nylon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

- Một nón bảo hiểm màu xanh có chữ mạng di động G mobile – Nghĩ mới- làm mới, sọc đen.

- Một nỏ thủy tinh.

- Một cân điện tử.

- Một điện thoại di động màu đen trắng ( bị nứt màn hình).

- Một điện thoại di động Infinix.

- Một tờ giấy màu trắng kích thước (40x5) cm.

Trách nhiệm dân sự: không

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKSNDCG ngày 30 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm về tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo A từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 183 ghi ngày 11 tháng 10 năm 2018, có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Thị Kiều Linh (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Võ Tuấn Kiệt (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có một gói nylon màu trắng được dán kín chứa 4,6092 gam là ma túy còn lại sau giám định loại Methamphetamine, 01 gói giấy màu trắng, 03 vỏ bao gói nylon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định, một nỏ thủy tinh, một cân điện tử và một tờ giấy màu trắng kích thước (40x5) cm. Tịch thu sung quỹ Nhà nước một nón bảo hiểm màu xanh có chữ mạng di động G mobile – Nghĩ mới - làm mới, sọc đen và một điện thoại di động Infinix. Trả lại cho bị cáo một điện thoại di động màu đen trắng (bị nứt màn hình).

Lời nói sau cùng của bị cáo A: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã có hành vi cất giữ trái phép 03 (ba) gói ma túy có thành phần Methamphetamine tổng khối lượng là 5,0341 gam đã bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy – Công an huyện Chợ Gạo bắt quả tang tại quán cà phê sân vườn E thuộc ấp M, xã N1, huyện Chợ Gạo vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 08 tháng 10 năm 2018.

Theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

....................................................................................................................

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

....................................................................................................................

g) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam ”.

Như vậy, hành vi của bị cáo A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bản thân bị cáo biết rõ ma túy là loại độc dược gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý và nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán. Bị cáo là người có đủ năng lực, nhận thức được rằng hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý vi phạm, vẫn tàng trữ để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cũng là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác, không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương nơi xảy ra vụ án, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân mà còn xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Trong tình hình xã hội hiện nay, các tội liên quan đến ma túy ngày càng có xu hướng tăng nhanh nên xét thấy cần có một hình phạt thật nghiêm khắc là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội đồng thời phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo A không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự .

Về xử lý vật chứng:

* Một xe mô tô biển số 63B7-089.89 do chị Nguyễn Thị Ngọc D đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Gạo đã trao trả xe cho chị D nên Hội đồng xét xử không xem xét.

* Một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 183 ghi ngày 11 tháng 10 năm 2018, có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Thị Kiều Linh (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Võ Tuấn Kiệt (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có một gói nylon màu trắng được dán kín chứa 4,6092 gam là ma túy còn lại sau giám định loại Methamphetamine, 01 gói giấy màu trắng, 03 vỏ bao gói nylon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định; một nỏ thủy tinh, một cân điện tử và một tờ giấy màu trắng kích thước (40x5) cm là dụng cụ bị cáo sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

* Một điện thoại di động màu đen trắng (bị nứt màn hình) bị cáo không sử dụng trong việc mua và sử dụng ma túy nên trả lại cho bị cáo.

* Một điện thoại di động Infinix và một nón bảo hiểm màu xanh có chữ mạng di động Gmobile – Nghĩ mới - Làm mới, sọc đen bị cáo dùng để liên lạc trong việc mua và sử dụng ma túy, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo và đối tượng E1 do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Gạo không thể tiến hành xác minh làm rõ.

Về ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 08/10/2018.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: Một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 183 ghi ngày 11 tháng 10 năm 2018, có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Thị Kiều Linh (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Võ Tuấn Kiệt (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có một gói nylon màu trắng được dán kin chứa 4,6092 gam là ma túy còn lại sau giám định loại Methamphetamine, 01 gói giấy màu trắng, 03 vỏ bao gói nylon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định; một nỏ thủy tinh, một cân điện tử và một tờ giấy màu trắng kích thước (40x5) cm.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước một điện thoại di động Infinix và một nón bảo hiểm màu xanh có chữ mạng di động Gmobile – Nghĩ mới - Làm mới, sọc đen.

- Trả lại cho bị cáo một điện thoại di động màu đen trắng (bị nứt màn hình).

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/01/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Gạo và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo).

+ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Văn A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

+ Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ