vanban.org

Bản án 07/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (Bảy) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 07 /2019/HSST
Ngày: 16/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thạch Vũ

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Văn Lộc

2. Bà Võ Thị Bạch Tuyết

Thư ký phiên tòa: Ông Dương Hồng Khanh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Thủy - Kiểm sát viên.

Vào ngày 16 tháng 4 năm 2019, tại nhà Văn hóa ấp B, xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh Tòa án nhân dân huyện C đưa ra xét xử lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2019/HSST ngày 29 tháng 01 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh T, sinh ngày: 04/3/1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chổ ở: ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Nguyễn Văn B – sinh năm: 1967; con bà Lê Thị Bích Th – sinh năm: 1973; anh chị em có 01 người (sinh năm: 1992); vợ con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 08/11/2017 bị Công an xã T phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2018 đến nay.

Bị cáo bị tạm giam và có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Hứa Trọng Ph, sinh năm: 2000

Địa chỉ: Tổ 11, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

2/ Viên Nhựt H, sinh năm: 1989

Địa chỉấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 29/11/2018, Công an xã B kết hợp với trinh sát Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Kinh tế Công an huyện C tuần tra trên địa bàn xã B. Khi đến khu vực phà B thuộc ấp B, xã B thì phát hiện và bắt quả tang đối tượng Nguyễn Thanh T có hành vi cất giấu trong Ti đeo chéo màu đen đeo trên người một gói nylon màu trắng bên trọng có chứa tinh thể không màu nghi là chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tôi quả tang và thu giữ các vật chứng liên quan, đồng thời đưa đối tượng về trụ sở làm việc.

Tại cơ quan Công an, T khai nhận: khoảng 06 giờ ngày 29/11/2018, T điều khiển xe gắn máy biển số 59L1- 326.21 đi từ nhà đến chung cư Rivierpoint thuộc phường T, quận 7 và ca trực bảo vệ từ 07 giờ đến 19 giờ. Trong lúc trực thì có người điện thoại cho T để hỏi mua ma túy nên khoảng 18 giờ cùng ngày, T nhờ anh Nguyễn Thanh H (bạn làm chung) trực giúp rồi điều khiển xe gắn máy nêu trên về huyện N, đến đầu hẻm số 141, đường N, huyện N, T nhắn tin zalo cho người đàn ông tên L có nick là HoangbaL, không rõ địa chỉ hỏi mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng. Khoảng 05 phút sau, người đàn ông tên L đem ma túy ra cho T. Sau khi mua ma tý xong, T cất giấu vào túi rồi chạy về huyện C với mục đích đem đến quán cà phê 609 thuộc xã B, huyện C để phân lẻ ra để bán lại cho Hứa Trọng Ph, sinh năm 2000, tên thường gọi “Hứa Lèo”, hộ khẩu thường trú: Tổ 11, ấp Bình A, xã B với số tiền 400.000 đồng mà T đã hẹn với P địa điểm giao nhận ma túy là đầu hẻm quán cà phê 609, đồng thời bán lại cho những người mua khác, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Ngoài ra T còn khai nhận trước đây đã bán ma túy nhiều lần cho các đối tượng:

1. Hứa Trọng Ph, tên thường gọi là Hứa Lèo, sinh năm 2000, hộ khẩu thường trú: Tổ 11, ấp B, xã B, bán 02 lần tại xã B, mỗi lần số tiền từ 400.000 đồng – 600.000 đồng, lần gần nhất là 25/11/2018.

2. Viên Nhựt H, sinh năm 1989, Hộ khẩu thường trú: Tổ 14, ấp A, xã A, mỗi lần số tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng, lần gần nhất là 26/11/2018.

Hình thức bán ma túy của Nguyễn Thanh T như sau: khi những người có nhu cầu mua ma túy về để sử dụng thì điện thoại hoặc nhắn tin cho T, nói rõ số tiền cần mua, nếu T đồng ý bán sẽ hẹn địa điểm giao nhận ma túy và đưa tiền. Số ma túy mà T bán cho các đối tượng là do T mua của một người đàn ông tên L, khoảng 24 tuổi, tại con hẻm số 141, đường Nguyễn Bình, xã N, huyện N. Tổng cộng T đã mua 03 lần, mỗi lần số tiền 1.000.000 đồng. T không biết địa chỉ nhà, chỉ liên lạc giao dịch mua bán ma túy qua tin nhắn zalo của L.

Cơ quan Công an đã triệu tập Hứa Trọng Ph và Viên Nhựt H đến làm việc, tại cơ quan Công an cả hai đều thừa nhận đã mua ma túy của Nguyễn Thanh T, đồng thời qua nhận dạng hai đối tượng đều xác định Nguyễn Thanh T nhiều lần bán ma túy cho mình.

Tại bản kết luận giám định số 10/KLGĐ-H ngày 06/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 2,4410 g, loại Methamphetamine (bút lục 37).

Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Nguyễn Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên bút lục (60- 65).

Về phần lợi nhuận từ việc mua bán trái phép chất ma túy: Do việc mua bán trái phép chất ma túy của T không có sổ sách ghi chép và bản thân T nghiện ma túy, số ma túy T sử dụng là phần ma túy dư ra sau khi mua bán trái phép chất ma túy, do đó không xác định được tiền lợi nhuận cụ thể là bao nhiêu.

Vật chứng thu giữ:

01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu qua giám định là ma túy ở thể rắn, có trọng lượng 2,4410 g, loại Methamphetamine, sau giám định còn lại 2,0984 g.

01 cân điện tử hiệu QC.PASS màu trắng đen, đã qua sử dụng.

01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu đen loại F5, đã qua sử dụng.

01 ống thủy tinh (nỏ).

01 Ti đeo chéo bằng vải màu đen, đã qua sử dụng.

02 cái kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng.

03 gói nylon trong suốt, lớn nhỏ khác nhau, bên trong không chưa gì.

02 cái quẹt gas, đã qua sử dụng.

Số vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Tiền Việt Nam 700.000 đồng, là tiền lương làm bảo vệ của Nguyễn Thanh T, T không dùng vào việc mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra huyện C đã xử lý bằng hình thức trả lại cho bị can T.

Tại bản cáo trạng số: 08/Ctr-VKS ngày 29/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa xét xử lưu động: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Áp dụng điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T với mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận khoảng 19 giờ 15 phút ngày 29/11/2018 bị cáo đang qua phà B để về huyện C sau khi mua ma túy từ huyện N thì bị Công an bắt giữ. Thu giữ trên người bị cáo có 01 gói ma túy vừa mua được. Bị cáo khai nhận mục đích mua ma túy để sử dụng và bán lại cho Hứa Trọng Ph và Viên Nhựt H.

Bị cáo khai nhận trước khi bị Công an bắt bị cáo đã bán ma túy cho P 02 lần với giá từ 400.000đồng đến 600.000đồng, lần gần nhất là vào ngày 25/11/2018. Và đã bán cho H 04 – 05 lần, mỗi lần giá từ 300.000đồng đến 500.000đồng, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của Hứa Trọng Ph và Viên Nhựt H.

Căn cứ Kết luận giám định số: 109/KLGĐ-H ngày 06/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4410g, loại Methamphetamine.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy nhiều lần cho Hứa Trọng Ph và Viên Nhựt H, đây là tình tiết định khung tăng nặng. Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện C là có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

- Bị cáo trên 18 tuổi, có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi để nhận thức rõ tác hại của ma túy. Ma túy là chất gây nghiện và ảnh hưởng đến sức khỏe, tàn phá cơ thể người sử dụng. Nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo đã mua ma túy về phân lẻ để bán cho người nghiện và sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm đến các quy định về phòng, chống và kiểm soát ma túy của cơ quan Nhà nước và gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo, làm ảnh hưởng đến tinh thần và đời sống vật chất của những người khác, làm phát sinh các tệ nạn xã hội.

- Nhân thân: Ngày 08/11/2017 bị Công an xã Tam Thôn H, huyện C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Tình tiết tăng nặng: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, tự thú về hành vi của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về quyết định hình phạt:

Mặc dù trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu qua giám định là ma túy ở thể rắn, có trọng lượng 2,4410 g, loại Methamphetamine, sau giám định còn lại 2,0984 g là vật Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu đen loại F5, đã qua sử dụng. Xét đây là công cụ bị cáo dùng để liên lạc mua bán trái pháp chất ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 ống thủy tinh (nỏ), 01 Ti đeo chéo bằng vải màu đen, đã qua sử dụng; 01 cân điện tử QC PASS màu trắng đen đã qua sử dụng; 02 cái kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng; 03 gói nylon trong suốt, lớn nhỏ khác nhau, bên trong không chưa gì; 02 cái quẹt gas, đã qua sử dụng. Thì Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

(Các vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án huyện C).

Đối với vật chứng trong vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trao trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Về án phí và quyền kháng cáo:

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt:

- Áp dụng Điều 38; Điểm r, s Khoản 1 Điều 51; Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (Bảy) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2018

3. Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy:

- 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu qua giám định là ma túy ở thể rắn, có trọng lượng 2,4410 g, loại Methamphetamine, sau giám định còn lại 2,0984 g.

- 01 ống thủy tinh (nỏ); 01 Ti đeo chéo bằng vải màu đen, đã qua sử dụng; 01 cân điện tử hiệu QC.PASS màu trắng đen đã qua sử dụng; 02 cái kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng; 03 gói nylon trong suốt, lớn nhỏ khác nhau, bên trong không chứa gì; 02 cái quẹt gas, đã qua sử dụng.

(Các vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án huyện C).

- Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu đen loại F5, đã qua sử dụng.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ