- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Kh - phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tịch thu tiêu huỷ 0,2878 gam mẫu ma túy Methamphetamine và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả” hoàn lại sau giám định; tịch thu tiêu huỷ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế của Dương Mạnh H1 (gồm: 01 vỏ chai nhựa nhãn hiệu Lavi trên nắp có đục…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VY TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2019/HS - ST Ngày 17 tháng 01 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VY, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Ông Vũ Văn Mạnh
Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông Sái Văn Trọng
Ông Bùi Thanh Bình
-"Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thao – Thư ký Toà án nhân dân thành phố VY.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố VY tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố VY xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số: 147/2018/HSST ngày 03 tháng 12 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐXXST - HS ngày 05/01/2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1982, tại Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Khu 6, phường NQ, thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; vợ là Nguyễn Thị H và có 02 con lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Tiền án: 02: Bản án số 107/2008/HS-ST ngày 31/10/2008 của Tòa án nhân dân thành phố VY xử phạt Nguyễn Văn Kh 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 10 tháng 16 ngày về tội “Đánh bạc” (số tiền Kh cùng đồng phạm sử dụng đánh bạc là 8.750.000đ), phạt bổ sung 3.000.000đ. Ngày 29/8/2014, Kh được miễn khoản tiền phạt và án phí; Bản án số 84/2015/HS-ST ngày 28/9/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Văn Kh 03 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 01/09/2017, Kh chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10 ngày 17/02/1999 của Công an phường NQ, thành phố VY xử phạt phạt tiền đối với Nguyễn Văn Kh về hành vi đánh bạc, mức phạt 50.000đ. Ngày 01/3/1999, Kh đã nộp phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2018 cho đến nay, có mặt.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Dương Mạnh H1, sinh năm: 1984; trú tại: Khu 1, phường NQ, thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
- Nguyễn Trung K, sinh năm: 1991; trú tại: Thôn 8, xã KL, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
- Nguyễn Chiến Th, sinh năm: 1984; trú tại: Khu 3, phường LB, thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
- Nguyễn Văn L, sinh năm: 1991; trú tại: Thôn B, xã QT, huyện SS, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Lê Mạnh H2, sinh năm: 1988; trú tại: Thôn D, xã TD, SS, Hà Nội (vắng mặt).
- Khổng Minh T1, sinh năm: 1991; trú tại: Xã MĐ, SS, Hà Nội (vắng mặt).
- Dương Văn T2, sinh năm: 1990; trú tại: Thôn 2, xã VT, huyện VL, Thanh Hóa (vắng mặt).
- Nguyễn Văn C, sinh năm 1994, trú tại: Khu 1, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 22/8/2018, Nguyễn Văn Kh cùng Dương Mạnh H1, Trần Thị Ng - sinh năm 1992, trú tại: Xã B, huyện TĐ, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Trung K, Nguyễn Chiến Th, Nguyễn Văn L, Lê Mạnh H2, Khổng Minh T1, Nguyễn Thị Hu - sinh năm 1983, trú tại: Xã HB, huyện KX, tỉnh Thái Bình và Dương Văn T2 ăn uống tại quán gà Minh Hoạch ở xã ĐT, thành phố VY. Trong quá trình ăn uống, một số người uống nhiều rượu và có biểu hiện say nên H1 có mời mọi người là ăn xong về nhà nghỉ LB1 (ở khu 15, phường LB, thành phố VY, nơi H1 đang thuê phòng 14 ở từ trước đó) nghỉ ngơi khi nào tỉnh rượu thì về. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Th say rượu nên H1 điều khiển xe ôtô taxi của T1 (không rõ biển kiểm soát và của hãng taxi nào) chở Th đến nhà nghỉ LB1 rồi bảo Th lên phòng 14 của H1 nghỉ, còn H1 đến quầy lễ T2 gặp anh Nguyễn Văn C là nhân viên lễ T2 đặt vấn đề thuê thêm phòng 12 để cho các bạn của H1 nghỉ, anh C đồng ý. Khoảng 30 phút sau, T1 gọi điện thoại cho H1 bảo ăn sắp xong, ra đưa mọi người đến nhà nghỉ. Sau đó, H1 lái xe ôtô taxi quay lại quán gà Minh Hoạch tiếp tục ngồi ăn uống cùng nhóm Kh. Đến 14 giờ cùng ngày ăn uống xong, H1 lái xe chở T1, H2, L, Huê về nhà nghỉ LB1, còn T2 ngồi lại uống nước tại quán gà Minh Hoạch một lát rồi cũng đến nhà nghỉ LB1. Kh điều khiển xe máy chở Ng ngồi sau đi đến nhà nghỉ LB1, còn K đi chơi. Về đến nhà nghỉ LB1, H1 đưa T1, H2, Lvà Huê vào phòng số 12 nghỉ, H1 bảo T2 vào phòng số 14 nghỉ cùng H1 còn Kh bảo Ng đi cùng Kh ra chợ VY mua hoa quả về mời các bạn ăn. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, K đến phòng 14 nhà nghỉ LB1 để gặp Kh đòi tiền, nhưng do Kh đi chợ nên K ở lại chơi với H1.
Tại chợ VY, trong lúc chờ Ng mua hoa quả, Kh nảy sinh ý định muốn sử dụng ma túy đá, Kh gọi điện thoại cho một nam thanh niên (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) hỏi mua của người này 1.000.000đ ma túy đá và bảo người này đem ma túy đến cổng nhà nghỉ LB1 bán cho Kh. Ng mua hoa quả xong, Kh điều khiển xe máy chở Ng quay lại nhà nghỉ LB1, Kh bảo Ng đi vào phòng 14 trước, Kh đợi vài phút sau thì có nam thanh niên đến cửa nhà nghỉ gọi Kh ra ngoài đường rồi đưa cho Kh 01 gói ma túy đá (bên ngoài gói bằng túi nilon màu đen, bên trong là tờ dạng tiền polime 10.000đ gập lại chứa ma túy đá), Kh cầm gói ma túy đúc vào túi quần phải của Kh rồi đưa lại cho người này 1.000.000đ sau đó đi vào phòng 14 nhà nghỉ LB1. Tại đây Ng gọt hoa quả cho H1, Th, K, Kh và Ng ăn, thì K nói đem hoa quả sang phòng 12 cho các bạn ở Hà Nội ăn cùng. Ng và Kh đem đĩa hoa quả sang phòng 12 cho T1, H2, Lvà Hu cùng ăn. Vài phút sau, T2 và Th cũng sang phòng 12 còn H1 vào phòng vệ sinh giặt quần áo. Trong lúc ăn hoa quả, Kh nảy sinh ý định sử dụng ma túy đá cho bản thân, Kh biết H1 có bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá nên Kh bảo Lsang gọi H1 sang phòng 12 chơi, L sang phòng 14 gọi H1 sang chơi. (H1 hiểu là sang phòng 12 để sử dụng ma túy đá, vì khi H1 và Kh say rượu hay cùng nhau sử dụng ma túy để nhanh tỉnh rượu). Vài phút sau, H1 cầm theo bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm: 01 chai nhựa loại Lavi, 01 coong thủy tinh và 01 ống hút nhựa, sang phòng 12 thấy Kh cùng các bạn đang ngồi trên 02 chiếc giường trong phòng ăn hoa quả, H1 đến ngồi gần Kh rồi để bộ dụng cụ ở cuối giường và cùng ăn hoa quả với các bạn. Thấy có bộ dụng cụ sử dụng ma túy, Kh lấy gói ma túy trong túi quần mở ra rồi đổ một phần ma túy đá vào coóng, phần còn lại Kh gói vào rồi để xuống giường giữa vị trí H1 và Kh ngồi, sau đó Kh dùng bật lửa đốt dưới coóng đựng ma túy đá rồi sử dụng ma túy bằng hình thức hút. Sau khi sử dụng xong, do uống nhiều rượu và bị phê (say) ma túy nên Kh nằm ra giường ngủ. Trước khi phê ma túy, Kh thấy H1 cũng sử dụng ma túy đá trong coóng mà Kh vừa sử dụng. H1 sử dụng ma túy và cũng nằm xuống giường. Sau đó Kh phê ma túy không biết có những đối tượng nào sử dụng ma túy trong bộ coóng hay không. Thấy Kh và H1 sử dụng ma túy đá, T2, T1, H2, Lvà Th cũng tự đến sử dụng ma túy đá. Vài phút sau, K đi vào phòng, thấy mọi người sử dụng ma túy đá, K cũng đến sử dụng ma túy đá cùng.
Đến 15 giờ cùng ngày, tổ C tác của Phòng CSQLHC về trật tự xã hội Công an tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp cùng Công an thành phố VY kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ LB1, thấy vậy H1 cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá cùng gói ma túy đá của Kh ném qua cửa sổ chớp (lỗ gió) phòng 12 ra ngoài. Tổ Công tác đã tiến hành kiểm tra và thu giữ: Thu dưới đất phía sau phòng 12 gồm: 01 gói nilon màu đen bên trong có tờ dạng tiền polime mệnh giá 10.000đ và trong tờ dạng tiền này có các hạt tinh thể dạng đá màu trắng (Kh và H1 và các đối tượng đều khai nhận đó là gói ma túy đá của Kh sử dụng nhưng chưa sử dụng hết), được niêm phong, ký hiệu A1; 01 bộ sử dụng ma túy đá tự chế, phần đầu coóng đã bị vỡ. Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ của Kh 01 điện thoại di động HOTWAV đã cũ."
Ngày 23/8/2018, Công an thành phố VY phối hợp với Trạm y tế phường LB, thành phố VY tiến hành xét nghiệm nước tiểu đối với: Nguyễn Văn Kh, Dương Mạnh H1, Nguyễn Trung K, Nguyễn Chiến Th, Dương Văn T2, Trần Văn L, Lê Mạnh H2, Khổng Minh T1, Trần Thị Ng và Nguyễn Thị Hu, kết quả: Kh, H1, K, Th, T2, L, H2 và T1 dương tính với ma túy tổng hợp, còn Ng và Hu âm tính."
Tại Kết luận giám định số 1188/KLGĐ ngày 26/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Tinh thể dạng đá của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy lẫn tạp chất, loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,4262gam. Khối lượng Methamphetamine trong 0,4262 gam mẫu là 0,3237 gam. Hoàn trả đối tượng còn lại sau giám định gồm 0,2878 gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao giấy gói “MẪU TRẢ”.
Về nguồn gốc gói ma túy đá Cơ quan công an thu giữ, Nguyễn Văn Kh khai nhận: Chiều ngày 22/8/2018, Kh mua gói ma túy đá như nội dung trên. Đến 15 giờ cùng ngày, tại phòng 12 của nhà nghỉ LB1, Kh lấy một phần ma túy đá mua được ra sử dụng, phần còn lại Kh gói lại để khi nào sử dụng hết số ma túy trong coóng Kh sẽ lấy ra sử dụng tiếp nhưng chưa kịp sử dụng hết thì bị cơ quan C an phát hiện, thu giữ.
Tại Cáo trạng số 157/CT-VKSVY ngày 30/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố VY đã truy tố Nguyễn Văn Kh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Kh khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Mạnh H1, Nguyễn Trung K, Nguyễn Chiến Th, Dương Văn T2, Trần Văn L, Lê Mạnh H2, Khổng Minh T1, Trần Thị Ng và Nguyễn Thị Hu đều vắng mặt, quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung trình bày của bị cáo và nội dung trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 09 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng của vụ án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Văn Kh không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn Kh tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với biên bản kiểm tra và Biên bản sự việc; phù hợp lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tang vật đã thu giữ; phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Xuất phát từ động cơ, mục đích thỏa mãn cơn nghiện, Nguyễn Văn Kh có hành vi mua ma túy đá để sử dụng. Khoảng 15 giờ ngày 22/8/2018, tại phòng 12 của nhà nghỉ LB1 thuộc khu 15, phường LB, thành phố VY, Nguyễn Văn Kh tàng trữ trái phép 01 gói ma túy đá để sử dụng thì bị Cơ quan công an phát hiện, thu giữ của Kh: 01 gói nilon màu đen bên trong có tờ dạng tiền polime mệnh giá 10.000đ và trong đó có các hạt tinh thể dạng đá màu trắng có khối lượng là 0,4262 gam, qua giám định có Methamphetamine. Khối lượng Methamphetamine trong 0,4262 gam mẫu là 0,3237 gam và 01 điện thoại di động HOTWAV đã cũ; thu giữ của Dương Mạnh H1 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, phần đầu coóng đã bị vỡ.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Kh đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo có 02 tiền án, chưa được xóa án tích do vậy bị cáo phạm tội theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015."
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội. Tàng trữ ma túy để sử dụng sẽ ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe của con người; có thể tạo ra một lớp người nghiện trong xã hội làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung.
Xét tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Kh phạm tội theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự có mức cao nhất của khung hình phạt đến 10 năm tù nên theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm rất nghiêm trọng. Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu, có 02 tiền án chưa được xóa án tích, do vậy lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Ngoài ra bị cáo Kh còn bị công an phường NQ, thành phố VY xử phạt phạt tiền về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10 ngày 17/02/1999. Điều đó chứng tỏ bị cáo là đối tượng coi thường pháp luật, không biết tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Mặt khác, hiện tại trên địa bàn thành phố VY các tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, phức tạp, từ đó nảy sinh những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, do vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đó là: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với quy định của pháp luật; bị cáo và những người liên quan không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Về đối tượng nam giới bán ma túy cho Nguyễn Văn Kh, quá trình điều tra Kh khai nhận: Qua bạn nghiện nói chuyện tại ngõ 7 đường Nguyễn Tất Thành, phường Khai Quang, thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc có nam giới sinh khoảng năm 1992 bán ma túy đá; bản thân Kh nghiện ma túy nên Kh có xin số điện thoại của người này (Kh không nhớ ai đã cho số điện thoại), sau đó Kh ghi vào mẩu giấy. Chiều ngày 22/8/2018, Kh gọi điện thoại cho nam thanh niên này thỏa thuận mua ma túy đá, sau khi gọi điện thoại xong Kh đã xóa số điện thoại, còn mẩu giấy ghi số điện thoại Kh đã làm rơi mất, đến nay không nhớ số điện thoại của nam thanh niên này. Khi giao dịch mua bán ma túy, Kh không để ý người bán và do giao dịch mua bán trong thời gian ngắn nên không nhớ mặt. Ngày 22/8/2018, Kh mua ma túy của người này là lần đầu tiên. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, xác minh tại C an phường Khai Quang về đối tượng bán ma túy đá cho Kh có đặc điểm nhận dạng theo khai nhận của Kh nhưng chưa xác định được người này, do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn Kh, qua điều tra và tại phiên tòa xác định: Sau khi uống rượu xong, Kh mua 01 gói ma túy đá với giá 1.000.000đ mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại phòng 12 của nhà nghỉ, thấy H1 đem bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá sang, Kh đã lấy một phần ma túy đá vừa mua được cho vào bộ coóng rồi dùng bật lửa đốt sau đó sử dụng. Sau khi hút xong, Kh bị phê ma túy nên không biết có những ai đã sử dụng ma túy, đến khi Cơ quan Công an kiểm tra thì Kh mới tỉnh. Trước khi đến nhà nghỉ LB1, Kh không rủ rê, lôi kéo các đối tượng đến sử dụng ma túy; phòng 12 là do H1 thuê cho các đối tượng nghỉ để tỉnh rượu thì về. Kh không phân công, không điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác, không chuẩn bị địa điểm, công cụ, phương tiện phạm tội; không rủ rê, lôi kéo, dụ dỗ người khác sử dụng trái phép chất ma túy; Kh không phân công bàn bạc, rủ rê, lôi kéo H1 chuẩn bị địa điểm, công cụ sử dụng ma túy đá. Gói ma túy đá Kh mua để mục đích sử dụng cho bản thân, số ma túy còn lại Kh để khi nào có nhu cầu sử dụng sẽ sử dụng tiếp cho bản thân. Do vậy, hành vi của Kh không cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với hành vi của Dương Mạnh H1, qua điều tra xác định: Tối ngày 21/8/2018, H1 đi chơi tại khu vực quảng trường tỉnh Vĩnh Phúc thuộc phường Khai Quang, thành phố VY, H1 thấy có 01 túi xách bằng nilon bên trong có 01 vỏ chai nhựa loại chai Lavi, 01 coóng thủy tinh, 01 ống hút nhựa, do H1 là đối tượng nghiện ma túy đá nên H1 biết đó là bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá nên H1 nhặt rồi đem về phòng 14 của nhà nghỉ LB1 cất giấu khi nào có nhu cầu sẽ đem ra sử dụng. Chiều ngày 22/8/2018, thấy L gọi H1 sang phòng 12 chơi, H1 đem theo bộ dụng cụ để nếu ai có ma túy đá thì đem ra để sử dụng ma túy đá. Sau đó, Kh lấy ma túy ở túi quần ra đổ một ít vào cóong sử dụng. Tuy nhiên, H1 chưa bị xử lý hành chính về hành vi tàng trữ các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, số lượng dụng cụ mà H1 tàng trữ là 01 đơn vị dụng cụ, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, H1 đã thuê phòng số 12, 14 của nhà nghỉ LB1 cho các đối tượng nghỉ nhưng sau đó đã để Kh sử dụng ma túy đá có dấu hiệu của tội chứa chấp, tổ chức việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, bản thân H1 cũng là người nghiện, đã cùng sử dụng ma túy với Kh; sau khi sử dụng xong, H1 nằm ở gường không biết có ai sử dụng ma túy. Do vậy, các hành vi nêu trên của H1 không cấu thành tội “Tàng trữ phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” và tội Chứa chấp, tổ chức việc sử dụng trái phép chất ma túy, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với H1 về các hành vi này.
Đối với các đối tượng: Dương Mạnh H1, Nguyễn Trung K, Nguyễn Chiến Th, Dương Văn T2, Trần Văn L, Lê Mạnh H2, quá trình điều tra xác định: Chiều ngày 22/8/2018, tại phòng 12 nhà nghỉ LB1 các đối tượng này đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; các đối tượng đều khai không thấy ai rủ rê, lôi kéo đến nhà nghỉ LB1 để sử dụng ma túy, chỉ sau khi thấy Kh sử dụng ma túy thì do đều là người nghiện nên đã tự đến sử dụng số ma túy đá còn lại trong bộ coóng mà Kh đã sử dụng; qua xét nghiệm nước tiểu dương tính với với ma túy tổng hợp. Ngày 23/10/2018, C an thành phố VY đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với các đối tượng nêu trên, mức phạt 750.000đ/đối tượng là phù hợp.
Đối với đối tượng tự khai là Khổng Minh T1, qua xét nghiệm dương tính với với ma túy tổng hợp. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã triệu tập T1 đến làm việc nhưng T1 không đến; xác minh tại Công an xã M, huyện SS, thành phố Hà Nội về đối tượng tên T1 theo thông tin T1 khai nhận tại Cơ quan công an, xác định tại xã M không có đối tượng nào tên Khổng Minh T1 có các thông tin như T1 đã khai nhận. Công an thành phố VY tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với cơ sở kinh doanh lưu trú (nhà nghỉ LB1), do anh Nguyễn Văn C làm quản lý. Quá trình điều tra xác định, ngày 20/8/2018 Dương Mạnh H1 một mình đến nhà nghỉ LB1 thuê phòng 14 nghỉ dài ngày. Đến 13 giờ ngày 22/8/2018, H1 gặp anh C đặt vấn đề muốn thuê thêm 01 phòng cho bạn nghỉ, anh C đồng ý. Anh C không biết việc H1 thuê phòng 12 sau đó cùng một số đối tượng sử dụng ma túy đá. Quá trình cho thuê phòng, thấy có tụ tập đông người, nghi ngờ các đối tượng sử dụng ma túy nên anh C đã gọi điện thoại trình báo Cơ quan Công an đến kiểm tra hành chính. Do vậy, Cơ quan Công an không đề cập xử lý đối với anh C là phù hợp.
Đối với chiếc điện thoại di động mang nhãn hiệu HOT WAV đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn Kh, qua điều tra xác định chiếc điện thoại này là tài sản hợp pháp của Kh; ngày 22/8/2018 Kh sử dụng chiếc điện thoại này để giao dịch mua ma túy đá, do vậy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy; qua xác minh tại địa phương và thẩm tra tại phiên tòa xác định bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: 0,2878 gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả” hoàn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế của Dương Mạnh H1 cần tịch thu tiêu huỷ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu HOTWAV của Nguyễn Văn Kh là phương tiện sử dụng vào việc mua bán ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 06 (Sáu) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 23/8/2018.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 0,2878 gam mẫu ma túy Methamphetamine và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả” hoàn lại sau giám định; tịch thu tiêu huỷ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế của Dương Mạnh H1 (gồm: 01 vỏ chai nhựa nhãn hiệu Lavi trên nắp có đục hai lỗ nhỏ, 01 coóng thủy tinh đã bị vỡ phần coóng, 01 ống hút nhựa); tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu HOTWAV đã cũ thu giữ của Nguyễn Văn Kh.
(Đặc điểm tang vật như biên bản bàn giao vật chứng ngày 05/12/2018, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố VY).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn Kh phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND thành phố VY; - C an thành phố VY; - Trại tạm giam- CA Vĩnh Phúc; - Chi cục thi hành án VY; - Thi hành án hình sự; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Vũ Văn Mạnh |