vanban.org

Bản án 07/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 28/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Trần Văn Tr (Th) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Tr (Th) 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 25/12/2018). Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mastel có vỏ màu đen, gắn sim số 0379.003.517 và sim số 0386.593.810 (đã qua sử dụng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Văn Tr (Th) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Văn Tr (Th) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊNYÊN
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2019/HS-ST
Ngày 28/5/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kim Văn Sơn;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Bang và bà Nguyễn Thị Mây;

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Mạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn Tr – tên gọi khác: Th; sinh ngày 12/9/1993, tại H, Quảng Ninh; nơi cư trú: Thôn X, xã W, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị C; vợ Phạm Thị L; có 01 con sinh năm 2015. Tiền sự: Không.

Tiền án:

- Ngày 21/01/2014, bị Tòa án nhân dân huyện huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 25/11/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị bắt quả tang ngày 25/12/2018, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tiên Yên. Có mặt.

* Người chứng kiến: Anh Đoàn Văn Z. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 00 phút ngày 25/12/2018, tại Số nhà 174 phố Thống Nhất, thị trấn Tiên Yên, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, Trần Văn Tr có hành vi tàng trữ trái phép 0,218 gam (Không phẩy hai một tám gam) ma túy Methamphetamine để sử dụng thì bị cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Yên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Yên đã khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Tr tại Số nhà 174, phố Thống Nhất, thị trấn Tiên Yên, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Tang vật thu giữ gồm:

01 túi nilon màu trắng, kích thước (2x2)cm, bên trong túi nilon có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel có vỏ màu đen, lắp sim số 0379.003.517 và sim số 0386.593.810 đã qua sử dụng; 01 dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa màu trắng có dán nhãn C2 màu vàng, có nắp màu vàng, trên nắp đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu tím, một lỗ gắn ống thủy tinh đường kính 0,6cm, đầu ống thủy tinh ngoài gắn bầu thủy tinh hình tròn đường kính 1,5cm, đầu ống còn lại cắm vào trong chai nhựa gắn với ống hút nhựa màu đỏ; 01 túi vải màu vàng có kích thước (40 x 45)cm, trên túi có in dòng chữ ROYAL, bên trong túi có 04 chiếc gương xe mô tô; 02 chiếc tô vít cán màu đỏ, dài 23cm; 01 kìm kim loại tay cầm bằng nhựa màu đỏ; 04 tròng chữ T có kích cỡ các đầu lần lượt là 8, 10, 12 và 17; 08 chiếc Cờ lê có kích cỡ lần lượt là 10-12 hai chiếc, 8-10 một chiếc, 12-14 một chiếc, 13-15 một chiếc, 14-17 một chiếc, 13 một chiếc, 19 một chiếc; 05 chiếc Lục giác hình chữ L; 01 chiếc tô vít thử điện; 01 chiếc loa nhãn hiệu BMB, kích thước (30x55x30)cm; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 29Z6 - 9026; 01 túi nhựa bên trong có: 01 giấy chứng minh nhân dân số 151700986 mang tên Đỗ Thị Hg; 01 sổ bảo hiểm xã hội mang tên Đỗ Thị Hg; 01 giấy vay nợ mang tên Đỗ Thị Hg.

Tại Bản kết luận giám định số 102/GĐMT ngày 26/12/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Mẫu vật giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,218 gam (Không phẩy hai một tám gam).

Quá trình điều và tại phiên tòa bị cáo Trần Văn Tr (Th) khai nhận: khoảng giữa tháng 11 năm 2018, bị cáo thuê nhà trọ tại Số nhà 174, phố Thống Nhất, thị trấn Tiên Yên, huyện Tiên Yên mục đích để ở. Trong thời gian thuê trọ tại Số nhà 174, phố Thống Nhất, Trương có quen biết với Đào Mạnh Q - sinh năm 1986; trú tại: Tổ R, Khu E, phường U, thành phố I, tỉnh Quảng Ninh, Q có đến ở nhờ tại nhà trọ của Tr. Khoảng 11 giờ ngày 24/12/2018, do biết Tr nghiện ma túy nên Q đưa cho Tr 01 túi nilon màu trắng, kích thước (2x2)cm bên trong chứa các tinh thể màu trắng là “ma túy đá” để cho Tr sử dụng, sau đó Q đi về. Khoảng 09 giờ ngày 25/12/2018, Tr bỏ ma túy ra sử dụng thì bị Công an huyện Tiên Yên phát hiện và bắt quả tang trong lòng bàn tay trái của Tr đang cầm giữ 01 gói giấy bạc màu trắng, trong gói giấy bạc có 01 túi nilon màu trắng, kích thước (2x2)cm, bên trong túi nilon có chứa chất ma túy.

Bị cáo Tr (Th) khai nhận 01 gói ma túy, 01 điện thoại di động và 01 dụng cụ sử dụng ma túy là của mình. Đối với các đồ vật khác bị thu giữ, bị cáo Tr khai nhận là của Đào Mạnh Q để lại tại phòng trọ của Tr, Tr không biết Q để lại từ bao giờ, chỉ khi bị thu giữ mới biết về số đồ vật đó. Đối với 01 chiếc loa nhãn hiệu BMB là của Q cho Tr để nghe nhạc, Tr không tham gia cùng Q trộm cắp chiếc loa trên vào ngày 24/12/2018.

Theo lời khai và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối tượng Đào Mạnh Q khai nhận số ma túy mà Cơ quan điều tra thu giữ của Tr không phải là của Q cho Tr, Q cũng không biết Tr có số ma túy trên. Đối với các đồ vật khác bị Cơ quan điều tra thu giữ Q thừa nhận là của Q để lại tại phòng trọ của Tr. Đối với 03 vụ trộm cắp xe mô tô mà Q thực hiện trong thời gian Q ở nhờ tại nhà Tr thì Tr không biết và không tham gia cùng với Q nhưng Tr có đi cùng với Q trộm cắp 01 đôi loa nhãn hiệu BMB vào ngày 24/12/2018.

Người chứng kiến anh Đoàn Văn Z vắng mặt tại phiên tòa, theo lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Anh không có quen biết với bị cáo Tr. Khoảng 09 giờ ngày 25/12/2018 tại Số nhà 174, phố Thống Nhất, thị trấn Tiên Yên, huyện Tiên Yên anh được chứng kiến sự việc Công an huyện Tiên Yên kiểm tra phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay trái của bị cáo Trương 01 gói giấy bạc, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon màu trắng có chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là chất ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKSNDTY ngày 16 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên truy tố Trần Văn Trương về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng và đề nghị xử bị cáo Trần Văn Tr (Th) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Trần Văn Tr từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 25/12/2018).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn sau giám định và 01 dụng cụ sử dụng ma túy.

Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp nhau; phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người chứng kiến anh Đoàn Văn Z; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản ảnh vật chứng; kết luận giám định số 102/GĐMT ngày 26/12/2018, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và Cáo trạng số 07/CT-VKSNDTY ngày 16 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 09 giờ 00 phút ngày 25/12/2018, tại số nhà 174, phố Thống Nhất, thị trấn Tiên Yên, huyện Tiên Yên, Trần Văn Tr (Th) có hành vi tàng trữ trái phép 0,218 gam (Không phẩy hai một tám gam) ma túy Methamphetamine để sử dụng thì bị Cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Yên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng thiếu tu dưỡng rèn luyện bản thân, bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, đã cất giấu khối lượng 0,218 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng nhằm đáp ứng cho nhu cầu của bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn vi phạm Luật Phòng, chống ma túy; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội.

Bị cáo Tr (Th) có 02 tiền án: Ngày 21/01/2014, bị Tòa án nhân dân huyện huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 25/11/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tại Bản án này, bị cáo Trương (Thắng) đã bị áp dụng tình tiết tái phạm. Bị cáo Trương chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25/6/2018, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới do lỗi cố ý, nên lần phạm tội này của bị cáo Tr (Th) thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm tù. Do đó Cáo trạng số 07/CT-VKSTY ngày 16/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung nêu trên. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích vụ lợi, làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không giữ chức vụ gì, là người nghiện ma túy, điều kiện kinh tế khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung nêu trên đối với bị cáo.

Về vật chứng:

- Số ma túy còn sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 dụng cụ sử dụng ma túy là vật dụng sử dụng chất ma túy, không có giá trị, nên cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Tr.

- 01 túi vải màu vàng có kích thước (40 x 45)cm, trên túi có in dòng chữ ROYAL, bên trong túi có 02 chiếc tô vít cán màu đỏ, dài 23cm; 01 kìm kim loại tay cầm bằng nhựa màu đỏ; 04 tròng chữ T có kích cỡ các đầu lần lượt là 8, 10, 12 và 17; 08 chiếc Cờ lê có kích cỡ lần lượt là 10-12 hai chiếc, 8-10 một chiếc, 12-14 một chiếc, 13-15 một chiếc, 14-17 một chiếc, 13 một chiếc, 19 một chiếc; 05 chiếc Lục giác hình chữ L; 01 chiếc tô vít thử điện cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Yên đã tách vật chứng ra chuyển đến vụ án Đào Mạnh Q, nên không đề cập.

- 04 chiếc gương xe mô tô; 01 chiếc loa nhãn hiệu BMB, kích thước (30x55x30)cm; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 29Z6 - 9026; 01 giấy Chứng minh nhân dân số 151700986 mang tên Đỗ Thị H; 01 sổ bảo hiểm xã hội mang tên Đỗ Thị H; 01 giấy vay nợ mang tên Đỗ Thị H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Yên đã trả lại cho chủ sở hữu, nên không đề cập.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng Đào Mạnh Q trong quá trình điều tra không đủ cơ sở kết luận Q cho Tr số ma túy trên vào ngày 24/12/2018 nên không có căn cứ để xử lý đối với Q. Đối với hành vi thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản của Q vào các ngày 19, 23 và 24/12/2018 tại Tiên Yên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Yên đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Đào Mạnh Q về tội “Trộm cắp tài sản” và được xử lý trong vụ án khác. Đối với việc Q khai Tr có tham gia cùng Q trộm cắp 01 đôi loa vào ngày 24/12/2018, quá trình điều tra không đủ cơ sở xác định Tr tham gia cùng Q và Tr biết số đồ vật đó do Q phạm tội mà có, nên không đủ cơ sở xử lý đối với Tr.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Trần Văn Tr (Th) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Tr (Th) 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 25/12/2018).

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 102/GĐMT có: 0,17g (không phẩy một bảy gam) Methamphetamine; 01 (một) dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa màu trắng có dán nhãn C2 màu vàng, có nắp màu vàng, trên nắp có đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu tím, một lỗ gắn ống thủy tinh đường kính 0,6cm, đầu ống thủy tinh ngoài gắn bầu thủy tinh hình tròn đường kính 1,5cm, đầu ống còn lại cắm vào trong chai nhựa gắn với ống hút nhựa màu đỏ (đã qua sử dụng).

Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mastel có vỏ màu đen, gắn sim số 0379.003.517 và sim số 0386.593.810 (đã qua sử dụng).

(Tình trạng như tại biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 11/CCTHADS-BB ngày 17/4/2019 giữa Công an huyện Tiên Yên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Yên).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn Tr (Th) phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ