- Tranh chấp gì? án hình sự — "Teo Văn Thắng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Teo Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2019/HS-ST Ngày 05 tháng 4 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng A Dọ;
Ông Tẩn Cao Sơn.
- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2019/TLHS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Teo Văn T, tên gọi khác: không; sinh năm 1978, tại: huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Teo Văn L (đã chết) và bà Lò Thị Đ, sinh năm 1944, hiện đang sinh sống tại thôn V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu; vợ: Lành Thị V, sinh năm 1982, hiện đang sinh sống tại thôn V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu; bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/01/2019 đến ngày 03/02/2019, hiện đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 28/01/2019, Teo Văn T đi xe mô tô BKS: 25P1-01072 lên xã B, mục đích đu tìm mua Heroine để sử dụng. Khoảng 13 giờ cùng ngày, T đi đến xã B nhưng không biết rõ là khu vực nào, T gặp và nhờ 01 người đàn ông khoảng 20 tuổi đi mua hộ 100.000 đồng Heroine và đứng đợi ở đường. Khoảng 20 phút sau, người đàn ông đó mang cho T 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh buộc thắt lại. Nhận gói Heroine, T không mở ra xem mà cất giấu vào túi áo khoác đang mặc rồi đi về nhà, còn người đàn ông mua hộ Heroine đi đâu, làm gì T không biết. Khi T đi đến km4+600 Quốc lộ 4D thuộc thôn V, thị trấn P thì bị tổ công tác Công an huyện Phong Thổ yêu cầu kiểm tra, T đã tự giác lấy trong túi áo khoác đang mặc trên người 01 gói nilon màu xanh buộc thắt lại, bên trong có chất bột khô vón cục màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai đó là Heroine.
Tại bản Kết luận giám định số: 93/GĐ-KTHS, ngày 31/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Vật chứng thu giữ của Teo Văn T là chất bột vón cục, màu trắng, có khối lượng là 0,12 gam, là ma túy, loại Heroine.
Bản cáo trạng số: 09/CT-VKS, ngày 15/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để xét xử Teo Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận thực hiện hành vi đúng như nội dung Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Teo Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 47, 54 của Bộ luật hình sự, Điều106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự xử phạt bị cáo Teo Văn T từ 04 tháng đến 06 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ niêm phong cũ là vật chứng của vụ án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với qui định của pháp luật.
Về chứng cứ, hành vi mà bị cáo Teo Văn T đã thực hiện:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và gửi đi giám định, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 28/01/2019, Teo Văn T đi bằng xe mô tô lên xã B để tìm tìm mua Heroine về sử dụng. Lên đến xã B, T đã nhờ một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ mua hộ 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, khi T đi về đến km4+600 Quốc lộ 4D thuộc thôn V, thị trấn P thì bị tổ công tác Công an huyện Phong Thổ yêu cầu kiểm tra, T đã tự giác lấy trong túi áo khoác đang mặc trên người 01 gói chất bột khô vón cục màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai đó là Heroine. Qua kết luận giám định xác định được vật chứng thu giữ của Teo Văn T có khối lượng là 0,12 gam, là ma túy, loại Heroine.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ Heroine là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn; hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho T, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ của người đó nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra về hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy của các đối tượng khác, giúp cơ quan điều tra xóa 02 điểm phức tạp về tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy, bắt giữ và khởi tố 02 đối tượng phạm tội về ma túy và có văn bản số 02, ngày 14/3/2019 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Thổ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xem xét khi lượng hình đối với bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Bố của bị cáo đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Ba, hạng Nhì, hạng Nhất do đã có thành tích phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam và nhiều thành tích khác. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi của bị cáo gây ra cho xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật cho bị cáo, góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần xem xét để áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo Điều 54 của Bộ luật hình sự cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ vỏ niêm phong cũ là vật chứng của vụ án là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 47, 54 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
1. Bị cáo Teo Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Teo Văn T: 06 (Sáu) tháng tù.
Bị cáo được khấu trừ thời gian bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/01/2019 đến ngày 03/02/2019. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ niêm phong cũ theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản lập hồi 15 giờ 30 phút, ngày 15/3/2019, tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp; - VKSND huyện Phong Thổ; - CA huyện Phong Thổ (CQ CSĐT, THAHS); - THADS huyện Phong Thổ; - UBND TT Phong Thổ; - Bị cáo; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |