- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn L - Phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 2…"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Phan Văn L cho UBND xã Th, huyện Th, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2019/HS-ST Ngày: 25- 4 -2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Như Khôi.
Ông Phan Đình Nguyện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Kim Sơn – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2019/TLST-HS, ngày 30 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2019 đối với:
Bị cáo Phan Văn L, sinh ngày 10/10/1967, tại xã Th, huyện Th, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Tân Lâm, xã Th, huyện Th, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn L và bà Nguyễn Thị D; vợ: Ngô Thị Ph và có 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: Chị Xeo Mẹ Ph, sinh năm 1977 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Xeo Phò Ph, sinh năm 1964; cư trú tại: Bản H, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Trần Đình D, sinh năm 1988; cư trú tại: Xóm T, xã H, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 25/11/2018, Phan Văn L có Giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô BKS 37E1-124.33 chở phía sau một chiếc giường gỗ đã được tháo rời bắc ngang qua yên xe đi từ thành phố V về Th. Đến 18 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến Km 29 + 740 QL46 thuộc xóm T, xã H, huyện N, tỉnh Nghệ An do chói đèn chiếu xa của xe ô tô đi ngược chiều nên Phan Văn L điều khiển xe mô tô sang phải thì chiếc giường tháo rời bắc ngang xe va quệt với chị Xeo Mẹ Ph - sinh năm 1977, trú tại bản H, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An đang đi bộ mép đường bên phải làm chị Xeo Mẹ Ph ngã xuống đường. Hậu quả: Chị Xeo Mẹ Ph bị chết, Phan Văn L bị thương nhẹ.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 11/KLGĐ ngày 04/12/2018, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nghệ An đã kết luận: "Nguyên nhân dẫn đến chị Xeo Mẹ Ph bị chết là do vỡ xương hộp sọ, xuất huyết não do chấn thương".
Về vật chứng: Trong quá trình điều tra đã thu giữ: 01 xe mô tô và 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 37E1-124.33, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phan Văn L số 400147036793 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Nghệ An cấp ngày 09/10/2014, trong quá trình chuẩn bị xét xử đã trả lại cho bị cáo Phan Văn L.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị can Phan Văn L đã bồi thường cho gia đình người bị hại Xeo Mẹ Ph số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng). Hiện người đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Cáo trạng số 05/CT-VKS-HS ngày 30/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An truy tố Phan Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn L mức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phan Văn L đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Các vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu và Người đại diện của bị hại theo đúng quy định của pháp luật và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn L đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người đại diện hợp pháp của bị hại, Người làm chứng đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy sự vắng mặt của những người nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự.
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Phan Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 18 giờ 40 phút, ngày 25/11/2018, tại Km 29 + 740 QL46 thuộc xóm T, xã H, huyện N, tỉnh Nghệ An, Phan Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe hạng A1 đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37E1-124.33 đi theo hướng từ thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đến huyện Th, tỉnh Nghệ An, do chở hàng hóa cồng kềnh vượt quá quy định về chiều rộng của giá đèo hàng nên đã va quệt vào người chị Xeo Mẹ Ph đang đi bộ ngược chiều ở mép đường phía bên phải theo hướng Vinh - N làm chị Xeo Mẹ Ph ngã xuống đường. Hậu quả: Chị Xeo Mẹ Ph bị chết. Hành vi trên của bị cáo đã vi phạm quy định tại Điều 20 Luật giao thông đường bộ, đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng của người khác, làm mất trật tự an toàn xã hội và gây tâm lý lo lắng cho người tham gia giao thông. Vì vậy, cần phải xử nghiêm để nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo cùng gia đình đã khắc phục hậu quả về dân sự đầy đủ cho gia đình bị hại; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội tại Đồn 559 Biên phòng Nghệ Tĩnh, bị cáo có bố là Phan Văn L, ông nội là Phan Sỹ D được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi quyết định hình phạt nên xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Vì vậy, không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, có căn cứ cần chấp nhận.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Các vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu và Người đại diện của bị hại theo đúng quy định của pháp luật và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn L 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 24 (Hai tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/4/2019) về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo Phan Văn L cho UBND xã Th, huyện Th, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phan Văn L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người đại diện hợp pháp của Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: [ơ - VKSND huyện N; - Bị cáo; Đại diện Bị hại; - Chi cục THADS huyện N; - Công an huyện N; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - UBND xã Th; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Mạnh |