- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nhiệm- TT ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------------------- Bản án số: 07/2019/HS- ST Ngày 06 tháng 3 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƢNG YÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà :
Ông Phạm Bá Hân
Các Hội thẩm nhân dân
: Ông Trần Quang Chử
Ông Nguyễn Thanh Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hiền – Thư ký TAND huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn Tú- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở UBND xã Đ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 01/2019/HSST ngày 11/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2019/QĐXXST- HS ngày 22/02/2019 đối với:
Bị cáo Lê Duy N, sinh năm 1980.
Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Trồng trọt. Giới tính: Nam
Trình độ học vấn: 5/12.
Con ông Lê Duy O và bà Vũ Thị X
Vợ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1982.
Có 02 người con. Con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2006.
Tiền án, Tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 26/6/2017 bị Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính, bằng hình thức phạt tiền với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 134/QĐ-XPVPHC. Đến ngày 10/7/2017 đã chấp hành xong quyết định.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2018, chuyển tạm giam từ ngày 27/12/2018. Có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng:
Ông Nguyễn Quốc V (vắng mặt)
Người chứng kiến:
1. Anh Nguyễn Văn Q (vắng mặt)
2. Ông Lê Duy O (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy, nên khoảng 11 giờ ngày 21/12/2018, Lê Duy N mang theo số tiền 244.000 đồng và đi nhờ xe của một người đi đường không rõ tên, tuổi, địa chỉ đến ngã năm Thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, N xuống xe đi bộ thì gặp 01 người đàn ông khoảng 38 tuổi, không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu đang đứng một mình, N đi tới hỏi mua ma túy thì người đàn ông này đồng ý, N đưa số tiền 200.000 đồng, người đàn ông cầm tiền và lấy từ trong người ra 01 gói Heroine đưa cho N. N cầm gói Heroine đút vào túi quần bên trái đang mặc rồi tiếp tục đi nhờ xe của người đi đường không biết tên, tuổi, địa chỉ để đi về. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, thì về đến địa phận thôn N, xã T, huyện Ân Thi, N xuống xe đi bộ một mình thì bị tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi và Công an xã Tân Phúc kiểm tra phát hiện tại túi quần dài màu đen bên trái N đang mặc 01 gói giấy nhỏ kích thước (1x1)cm, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột, N khai là Heroine mua về để sử dụng, niêm phong tại bì thư ghi (I ) và tại túi áo khoác màu xanh bên phải N đang mặc số tiền 44.000 đồng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Duy N về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Kết luận giám định số 73/PC09 ngày 24/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng bột và cục trong niêm phong ghi số I thu của Lê Duy N, có khối lượng 0,322g (Không phẩy ba hai hai gam), là ma túy, loại Heroine. Sau giám định hoàn lại 0,300g (Không phẩy ba không không gam) Heroine trong niêm phong ghi số I thu của Lê Duy N, mẫu hoàn được niêm phong giao cho Công an huyện Ân Thi quản lý.
Người đàn ông bán ma túy cho N không rõ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi không có căn cứ để xử lý.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,300g Heroine trong niêm phong ghi số I thu của Lê Duy N trong phong bì ghi mẫu vật gửi giám định hoàn lại số 73/PC09 – Công an tỉnh Hưng Yên hiện đang được quản lý tại Kho vật chứng Công an huyện Ân Thi chờ xử lý; số tiền 44.000 đồng thu giữ của Lê Duy N được gửi tại tài khoản tạm gửi của Công an huyện Ân Thi tại Kho bạc Nhà nước huyện Ân Thi chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 02/QĐ- VKS ngày 10/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố Lê Duy N về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê Duy N từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời gian tính từ ngày 21/12/2018.
Về vật chứng : Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 niêm phong ghi mẫu vật gửi giám định hoàn lại số 73/PC09 ngày 24/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên bên trong có 0,300g Heroine.
Trả lại Lê Duy N số tiền 44.000đ.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Xét hoàn cảnh kinh tế khó khăn của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Tại phiên toà bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là trái pháp luật và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Ân Thi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như bản tường trình của bị cáo, biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản lấy lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định... Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 21/12/2018, tại đoạn đường Quốc lộ 38 thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, Lê Duy N đã có hành vi cất giấu trái phép trong người 01 gói Heroine có khối lượng 0,322 gam mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ được toàn bộ vật chứng. Như vậy, VKSND huyện Ân Thi truy tố bị cáo Lê Duy N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo điều kiện cho tệ nạn ma tuý phát triển, làm phương hại đến đạo đức, sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Đặc biệt việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm khác khiến cho quần chúng nhân dân rất bất bình.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét đến tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách N hình sự và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách N hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách N hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách N hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét nhân thân của bị cáo thì thấy bị cáo có nhân thân xấu, là người nghiện ma túy, đã từng bị Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 26/6/2017 (đã chấp hành xong ngày 10/7/2017) nhưng không rút ra được bài học kinh nghiệm cho mình mà nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất nghiêm trọng. Vì vậy HĐXX xét thấy cần phải có một hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần đấu tranh phòng và chống loại tội phạm này.
Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế và thu nhập của bị cáo còn khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng : 0,300 gam Heroine trong niêm phong ghi mẫu vật gửi giám định hoàn lại số 73/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hưng Yên là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cho tịch thu, tiêu hủy.
Số tiền 44.000đ không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Đối với người đàn ông không rõ tên tuổi đã bán ma túy cho N, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay chưa làm rõ được nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Bị cáo Lê Duy N 01 năm 06 tháng tù, thời gian tính từ ngày 21/12/2018.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 niêm phong ghi mẫu vật gửi giám định hoàn lại số 73/PC09 ngày 24/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên bên trong có 0,300g Heroine.
Trả lại Lê Duy N số tiền 44.000đ (Bốn mươi bốn nghìn đồng).
(Tất cả có đặc điểm như quyết định chuyển vật chứng số 01 ngày 10/01/2019).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội năm 2016.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Công an huyện Ân Thi - VKS huyện Ân Thi; VKSND tỉnh Hưng Yên - Bị cáo, - Lưu Hs. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Phạm Bá Hân |